Chương 1: Gây thù kết oán

Một người yểu điệu kiêu sa

Một người sắc sảo chính tà bất phân

Có duyên đổi oán thành ân

Người về Châu Mộc kẻ gần Hoa Lư

Phần 1:

Năm Giáp Thân, niên hiệu Thiên Phúc thứ năm (năm 984), thời Minh Càn Ứng Vận Thần Vũ Thăng Bình Chí Nhân Quảng Hiếu Hoàng Đế (tức Đại Hành Hoàng Đế Lê Hoàn), thánh chỉ tuyên rằng:

“Từ ngày vâng mệnh trời kế nghiệp Đinh Tiên Hoàng, Trẫm không lúc nào ngừng lo nghĩ cho vận mệnh quốc gia. Phía Bắc, người Tống ngày đêm lăm le xâm phạm bờ cõi, phía Nam, giặc Cử Long [1] lì lợm cướp phá khuấy động can qua, nay tại đạo Lâm Tây [2], bộ tộc Khau Phạ [3] lại khơi dậy mối bất hòa. Bao nhiêu năm binh đao liên miên, dân tình thống khổ, vận khí quốc gia không khỏi suy vong vì nội chiến, đừng nói là đối phó ngoại địch ngang tàng.

Trẫm ngày ăn không ngon, đêm ngủ không yên, buồn rầu một nỗi, người Khau Phạ và người Kinh đều cùng một bọc tiên rồng sinh ra [4], cùng xuất thân từ tộc người Âu Việt – Lạc Việt, anh em như thể tay chân, sao không cùng nhau gánh vác Đại Cồ Việt mà lại sinh lòng nghi kỵ ghét bỏ lẫn nhau? Dù vậy, tình máu mủ không thể dứt bỏ, nghĩa cội nguồn cũng không dễ lãng quên, trẫm một mực tin tưởng rằng, tù trưởng Hà Thanh Lâm của tộc Khau Phạ cũng không tránh khỏi mối bận lòng như trẫm. Thân là người đứng đầu quốc gia, mang trọng trách anh cả trong tộc, phận sự của trẫm là ra sức hàn gắn, phận sự của tù trưởng là một mực quy thuận, có như vậy, một nhà từ trên xuống dưới mới được yên ấm, quốc gia từ trong ra ngoài mới được vững mạnh. Khi ấy, dù Man Cử Long có lì lợm đến đâu, người Tống có ngang tàng thế nào, trẫm cũng được yên lòng vì có tộc người Khau Phạ cùng chia sẻ mối lo chung.

Thế nên, để nhắc nhở mối thâm tình giữa hai tộc người, cũng như bày tỏ tấm lòng của Trẫm, Trẫm chủ ý cầu hôn ái nữ của tù trưởng Hà Thanh Lâm là Hà Mỵ Nương [5] cho em trai Trẫm là Nhân Trí Vương. Từ nay hai bên kết làm thông gia, việc quốc gia đại sự cũng như việc nhà, anh em yêu thương nhau mà cùng nhau gánh vác, có như vậy vận khí quốc gia mới được hưng thịnh, không phụ lòng tổ tiên Âu – Lạc dựng nước.”

Mặt Trời từ từ ngả bóng, núp vào vạt rừng vùng núi Lâm Tây. Bấy giờ đã là mùa thu tháng bảy, không khí lạnh lẽo rét buốt, cảnh vật đìu hiu. Trên con đường mòn băng rừng xuống núi, tiếng vó ngựa biếng nhác giẫm lên lớp lá khô kêu xào xạc liên hồi. Đoàn người gồm năm mươi tráng sĩ và mười hai thị nữ người Khau Phạ cứ im lặng bước đi nhịp nhàng, tiếng chân giẫm lên đất sỏi cùng lá khô trộn lẫn vào trong thanh âm của rừng núi. Giữa đoàn là một chiếc xe bọc gấm được kéo bởi hai con ngựa to cao màu đen ánh xanh, tiếng bánh xe lăn cọt kẹt đều đặn theo từng nhịp vó ngựa mệt nhoài. Không khí đã ảm đạm, nay càng thêm phần thê lương.

Đột nhiên, tráng sĩ dẫn đầu đoàn, một thanh niên trẻ tuổi mặc y phục màu đen, ghìm cương nói lớn:

  • Còn khoảng bốn mươi dặm đường rừng nữa mới đến Trạm Hoàng Liên, tất cả hạ trại, giờ Mẹo ngày mai tiếp tục lên đường.

Nói xong, tráng sĩ áo đen thúc ngựa chạy ngược về phía chiếc xe bọc gấm. Chàng nhảy xuống, ôn tồn nói vọng vào trong:

  • Mỵ Nương em, xuống xe vào lều nghỉ ngơi thôi.

Từ trên xe, một thị nữ trẻ đưa tay vén rèm, dìu một người nữa cùng bước xuống, chính là Mỵ Nương của tộc Khau Phạ. Mỵ Nương ấy vừa tròn mười bảy, nhan sắc vô cùng kiều diễm; nàng vận áo lụa màu vàng nhạt, ngoài khoác chiếc áo lông chồn. Sau hơn một tuần xuống núi, trông nàng có phần tiều tụy, khuôn mặt mỹ lệ thoáng chút ưu tư phiền muộn. Chân vừa chạm đất, nàng vội đi đến bên cạnh tráng sĩ áo đen, ra chiều ân cần đưa tay nắn lại cổ áo bị lệch của chàng rồi nhẹ nhàng nói:

  • Anh em mình chỉ còn được nhìn mặt nhau đêm nay nữa thôi, sau này ngàn dặm cách biệt, cha mẹ em đành phó thác cho anh. Em đi rồi sống chết sướng khổ khó lường, chỉ mong sao gia đình ta ở núi Khau Phạ được yên ổn.

Nói đến đây, nàng cúi gằm mặt xuống, không dám nhìn thẳng vào mắt anh trai. Sau một cái gạt tay lướt nhanh qua cặp mắt long lanh, nàng lại ngẩng lên, cười nhẹ rồi nắm lấy tay cô hầu gái nhỏ tuổi, cùng đi về phía lều trại. Giữa vùng rừng núi hoang vu, một chiếc lều màu xanh lẫn với màu lá cây nhanh chóng được dựng lên, làm nơi trú ngụ qua đêm cho Mỵ Nương và các thị nữ. Năm chục tráng sĩ cùng quan lang [6] Hà Thanh Bình, tức tráng sĩ áo đen dẫn đầu đoàn, và một vị chức sắc nữa trong tộc người Khau Phạ là Đỗ Hòa ở bên ngoài đốt lửa chia phiên canh gác.

Họ chính là đoàn đưa dâu của tộc người Khau Phạ. Sau khi đạo thánh chỉ cầu hôn được đưa đến núi Khau Phạ, hay còn gọi là Hoàng Liên Sơn, đoàn rước dâu của triều đình tạm lui về trạm Hoàng Liên, hẹn sau một tháng, người của tù trưởng Hà Thanh Lâm sẽ đưa Mỵ Nương xuống núi. Thấm thoắt đã gần đến ngày hẹn, vài canh giờ nữa thôi, Mỵ Nương sẽ phải chia tay anh trai để đến kinh đô Hoa Lư, thành hôn với Nhân Trí Vương Lê Thám. Tù trưởng họ Hà vì thương đứa con gái độc nhất của người ái thiếp Ý Thị, đã phái cả đoàn trai tráng và con trai trưởng là quan lang Hà Thanh Bình hộ tống nàng xuống núi bình an.

Bấy giờ, chỉ còn lại Tiểu Hoa và Mỵ Nương ở trong lều, mười hai thị nữ đều đã ra ngoài nấu nướng hết cả. Hôm nay chưa phải ngày rằm, nhưng mảnh trăng non khuyết hơn quá nửa vẫn rực rỡ phủ lên mảng rừng đen lớp ánh sáng mơ hồ huyền ảo. Mỵ Nương ngồi bên cửa lều, ngẩng đầu nhìn vầng trăng treo giữa trời. Dưới ánh sáng bàng bạc, khuôn mặt nàng càng thêm phần diễm lệ. Nàng ngồi đấy nhìn trăng, trong đầu lại trùng trùng tâm sự.

Cha nàng là tù trưởng tộc Khau Phạ, cứ ba năm lại phải phái người đến kinh đô Hoa Lư chầu vua Lê một lần, cũng chỉ muốn chứng tỏ mình không có dạ phản trắc. Mỗi lần như thế đều đem theo vô số báu vật núi rừng dâng lên đức vua. Thế nhưng tộc Khau Phạ lớn mạnh lại ở quá xa kinh đô, cho nên dẫu có thực lòng thực dạ tận trung báo quốc, vẫn không thể tránh khỏi sự nghi ngờ đề phòng của triều đình. Huống hồ lúc này, không biết từ đâu lại dấy lên tin đồn rằng bộ trận pháp huyền thoại Man Thiện bí kíp hiện đang ở Khau Phạ, khiến vua Lê càng không thể không lưu tâm đến. Từ nhiều đời nay, truyền thuyết về Man Thiện bí kíp đã bao lần làm khuynh đảo thời cuộc, sự tồn tại của bộ trận pháp ấy đến giờ vẫn còn là một nghi án lớn. Tuy vậy, có không ít kẻ đã quyết sống chết để truy tìm bóng dáng Man Thiện bí kíp trong biển võ học mênh mông.

Câu chuyện về Man Thiện bí kíp bắt nguồn từ triều đại của Trưng Vương, một nữ hào kiệt đất Mê Linh. Thuở xưa, khi Đại Cồ Việt còn chịu sự cai trị của Bắc quốc, với binh lực hùng hậu, lại được thế giang sơn rộng lớn, Bắc quốc đã thiết lập một chế độ đô hộ khắc nghiệt, nhằm bóp nghẹt sinh khí của tộc người Việt cổ. Thế mà, chỉ với thân phận nhi nữ, Trưng Vương lại có thể làm được chuyện kinh thiên động địa, khiến Bắc quốc phải mất ăn mất ngủ, đối phó hết lần đến lần khác, cuối cùng đành dùng đến hạ sách bỉ ổi mới có thể trấn áp đội quân nhi nữ đáng gờm của Trưng Vương. Kỳ tích ấy, sau hơn hai trăm năm, đã tái lập ở xứ Cửu Chân phía nam, gắn liền với tên tuổi của một nữ hào kiệt họ Triệu, thường được gọi là Triệu Trinh Nương. Bắc quốc một lần nữa lại phải dùng đến kế cũ mới tiêu diệt được nghĩa quân họ Triệu. Cả hai lần, đều bởi bàn tay nhi nữ, thời cuộc đã thật sự ngả nghiêng, hai nữ hào kiệt ấy khiến đám nam nhi phải tự thấy hổ thẹn. Thế nhưng, sau hơn hai trăm năm nữa, mãi đến triều đại của Triệu Việt Vương Triệu Quang Phục, bí mật của hai nữ hào kiệt mới dần sáng tỏ. Triệu Quang Phục vô tình có được bộ Man Thiện bí kíp của Trưng Vương, đã áp dụng trận pháp ấy lên thế đầm Dạ Trạch bé nhỏ, không ngờ lại có thể làm nên đại cuộc. Từ đấy, người ta bắt đầu để tâm đến Man Thiện bí kíp, lại cho rằng, ai nắm giữ bộ trận pháp ấy, cũng sẽ nắm giữ được cả thiên hạ.

Truyền thuyết hẳn nhiên có phần hoang đường, nhưng phàm đã là điều có liên quan đến quyền lực và địa vị, thì càng khiến người ta để tâm dòm ngó.

Mỵ Nương tuy tuổi còn trẻ, chưa từng rời khỏi núi Khau Phạ, nhưng cũng từng nghe đến tiếng tăm của vị vương gia sẽ cùng mình kết nghĩa vợ chồng. Nhân Trí Vương Lê Thám thật ra chẳng phải máu mủ ruột rà gì với vua Lê, y chỉ là con út của viên quan sát [7] họ Lê đã nhận nuôi đức vua khi ngài còn hàn vi. Sau khi lên ngôi, vì quý Lê Thám văn võ song toàn, lại nhớ ơn dưỡng dục xưa của cha y, vua Lê đã phong y làm Nhân Trí Vương, ban ấp ngay tại kinh đô Hoa Lư. Hiển nhiên, Lê Đại Hành cầu hôn Mỵ Nương cho y không đơn thuần chỉ là để “nhắc nhở mối thâm tình” hay “bày tỏ tấm lòng” như trong thánh chỉ đã ban. Lê Thám vốn nổi tiếng là một đại cao thủ, hiểu biết của y về võ công rất uyên thâm, cuộc hôn nhân giữa y và người Khau Phạ sẽ là một mối liên kết chặt chẽ, một cái cớ tốt để y có thể rộng đường nghe ngóng tin tức về Man Thiện bí kíp, đồng thời cuộc hôn nhân ấy cũng có tác dụng tương tự một đòn cảnh báo mà Lê Đại Hành dành cho người Khau Phạ. Họ Lê vốn vừa có được thiên hạ từ tay họ Đinh, tất nhiên sẽ phải đề phòng kẻ khác giành lại thiên hạ trong tay mình. Man Thiện bí kíp lại là vật có năng lực khuấy đảo thị phi, triều đình để nó thuộc về phe nào cũng sẽ là một mối họa khôn lường.

Đêm càng khuya, lòng càng nặng tơ sầu, khi tiếng cười nói bên ngoài đã im ắng, chỉ còn lại tiếng vo ve của côn trùng, Mỵ Nương vẫn không sao ngủ được. Sáng sớm ngày mai, khi đến trạm Hoàng Liên, nàng sẽ không còn cơ hội được tận hưởng cảm giác tĩnh tại khi hương đêm tràn ngập và đặc quyện thanh sắc rừng núi nữa. Cuối cùng thì ngày mà nàng thật sự biết lưu luyến vùng đất đầy sơn lam chướng khí này cũng là ngày nàng phải nói lời vĩnh biệt với nó.

Bên ngoài đột nhiên có tiếng rên rỉ, ban đầu là của một người, càng về sau lại càng nhiều người hơn. Chỉ trong khoảnh khắc, khu trại trở nên hỗn loạn bởi tiếng kêu la thảm thiết ngày một dày đặc. Mỵ Nương bị ngắt dòng suy tư, giật mình ngồi bật trở dậy, khoác vội áo lông chồn bước ra khỏi lều. Một cảnh tượng kinh hoàng đập vào mắt nàng, năm mươi tráng sĩ không hiểu vì sao lại lăn lộn rên xiết dưới nền đất, làm chấn động cả vạt rừng. Đỗ Hòa và anh trai nàng cũng đã thức dậy, cùng hớt hải chạy đến chỗ nàng, sắc mặt hoang mang tái nhợt. Thanh Bình vừa thở gấp vừa nói:

  • Không xong rồi, bọn họ trúng độc cả rồi!
  • Bọn thuộc hạ không biết đó là loại độc vật gì. Chỉ có thuộc hạ và quan lang ăn riêng nên không sao, không biết là bị ngộ độc hay là có kẻ cố ý hạ độc nữa._Đỗ Hòa vừa nói vừa nheo mắt nhìn đám người đang co giật vì đau đớn.

Một vài người vẫn còn trong cơn quằn quại cố trườn mình chỉ về phía Đông khu rừng, thét lên cảnh báo, mọi người lập tức quay đầu nhìn. Một đốm lửa cháy sáng, rồi lại thêm nhiều đốm lửa nữa dần dần tiến đến gần khu trại, tạo thành một vòng kín bao quanh. Khi lửa đã châm lên quá nửa, mọi người mới nhận ra mình đang bị bao vây bởi một nhóm người khác, chúng có đến vài chục tên bịt kín mặt, tay lăm lăm vũ khí. Trong số đó có một ả mặc áo đen không thèm bịt mặt, dáng vẻ ngạo nghễ, vóc người nhỏ bé, tay cầm một con dao găm lưỡi cong, ung dung bước lên phía trước. Dưới ánh lửa lập lòe, khóe môi ả chếch lên tạo thành một vệt cười ma mị, ả gằn từng tiếng một:

  • Kẻ hạ độc là ta!

Đỗ Hòa không khỏi bất bình, nạt nộ truy hỏi:

  • Cô và chúng ta không quen không biết, cũng không oán không thù, tại sao lại ra tay hạ độc?

Ả ta chậm rãi bước hẳn khỏi tán cây, nhân diện hiện rõ mười phần, hóa ra cũng chỉ chừng mười bảy mười tám tuổi. Ả tuy lời lẽ ngông cuồng tàn độc, nhưng dung mạo lại rất xinh đẹp, so với Mỵ Nương không hề kém cạnh, gương mặt ả thanh tú, cặp mắt sắc sảo, thần thái lúc thì ra vẻ ủy mị, lúc lại bộc lộ gian trá. Ả thong thả bước vào khu trại của người Khau Phạ như đi vào chỗ không người, chân vô tư giẫm đạp lên những cánh tay đang cố vươn ra gây cản trở của những kẻ trúng độc nằm la liệt dưới đất. Khi còn cách bọn Thanh Bình khoảng hai chục bước, ả bất ngờ nhảy chồm đến, tay xoay ngược lưỡi dao, dùng cán đánh mạnh vào quai hàm Đỗ Hòa, sau đó quay người tung cước đá vào hông Thanh Bình khiến y văng ra xa; tiện thể, ả vươn tay trái lôi vạt áo Mỵ Nương rồi ôm ngang hông nàng, kéo người về hơn ba trượng. Chỉ còn lại một mình Tiểu Hoa đứng trơ trọi ngay cửa lều, cô vội chạy đến đỡ Thanh Bình và Đỗ Hòa. Trước tình thế đó, Thanh Bình vô cùng sửng sốt, tự nghĩ tại sao bản thân không trúng độc mà chỉ bằng một cước của ả đã cảm thấy toàn thân mệt mỏi, không cách gì chống trả được. Y nào biết, mình lại trúng phải một loại độc dược không mùi không vị khác, khi thuốc ngấm vào người thì không hề hay biết, chỉ đến khi vận nội công mới cảm thấy bất lực, chính là Mê Dược Hương Hồn Tán, một loại độc dược bí truyền của người Chiêm Thành.

Mỵ Nương bị ả áo đen bất ngờ khống chế, trong lòng không khỏi kinh hãi. Nàng vùng vẫy liên hồi nhằm nỗ lực thoát thân, nhưng cánh tay ả kia vẫn cứ trơ ra như sắt đá, kẹp chặt hông nàng. Mỵ Nương đau đớn kêu lên:

  • Thả tôi ra!
  • Cô kêu la làm gì!_Ả áo đen vừa nói vừa mỉm cười vẻ khoái trá_Bọn ta đến đây để bắt cô. Bắt được cô rồi, ta sẽ giết sạch bọn họ.

Ả ta nói chuyện giết người bằng chất giọng tuyệt đối thản nhiên, khiến Mỵ Nương sợ hãi khôn cùng. Cơn ớn lạnh trườn dọc sống lưng Mỵ Nương, nàng khẽ mấp máy môi, mắt long lanh ngấn nước:

  • Cô định giết hết mấy chục mạng người ở đây?

Ả áo đen bật cười rộ lên, đám thuộc hạ bịt mặt cũng được dịp cười hùa theo.

  • Một trăm người ta còn giết, vài chục kẻ vô dụng ở đây, đến một cô gái cũng không bảo vệ nổi, thì là cái thá gì mà ta không dám giết!

Nói xong, ả lớn tiếng ra lệnh cho thuộc hạ:

  • Các ngươi giết hết mấy kẻ trúng độc cùng mấy ả thị nữ, nhớ ra tay nhanh gọn, không gây đau đớn, để bọn chúng không oán ta độc ác. Còn bọn ba người kia _ả chỉ vào bọn Thanh Bình, Đỗ Hòa và Tiểu Hoa _Mau đem hết về trại!

Trong bọn lập tức có sáu tên áo đen áp giải ba người, lại thêm một nhóm mười tên nữa đi đến chỗ đám tráng sĩ đang nằm rên la, từng nhát kiếm giết chết từng người một. Mỵ Nương rùng mình, cả thân người bỗng chốc cứng đờ. Tiếng rên la thảm thiết của năm mươi tráng sĩ bị trúng độc và mười hai thị nữ chân yếu tay mềm cứ thế quyện vào làn sương đêm lạnh cóng. Mọi chuyện diễn biến quá nhanh, quá bất ngờ, khiến đầu óc Mỵ Nương quay cuồng điên đảo, thần trí nàng như bị đóng băng, quang cảnh đẫm máu trước mắt từ từ nhòe đi rồi tối sầm lại. Nàng không thể tiếp tục đứng vững, thân xác rã rời trôi tuột vào cơn hôn mê điên cuồng ám ảnh.

Chú thích

[1] Cử Long: thuộc vùng dân tộc Mường, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa.

[2] Đạo Lâm Tây: nay là vùng núi Tây Bắc của nước ta, tại thời điểm như trong truyện thì đạo Lâm Tây hay còn gọi là châu Chân Đăng vẫn chưa hoàn toàn thuộc về nước ta mà một phần còn là đất của nước Đại Lý. Đến thời Lý Thái Tổ thì ta đánh bại Đại Lý để lấy toàn bộ vùng đất này.

[3] Khau Phạ: trong tiếng dân tộc Thái, Khau Phạ có nghĩa là Sừng Trời (chiếc sừng núi nhô lên tận trời), hay đôi khi còn được hiểu là Cổng Trời. Khau Phạ còn là tên của dãy núi Hoàng Liên Sơn theo cách gọi của người dân tộc Thái

[4] Cùng một bọc sinh ra, ý ám chỉ truyền thuyết con rồng cháu tiên, người Lạc Việt được sinh ra từ bọc trứng trăm con của mẹ Âu Cơ.

[5] Hà Mỵ Nương: Mỵ Nương là danh xưng chỉ con gái của tù trưởng, không phải là tên. Cách gọi này có từ thời vua Hùng. Trong truyện, Hà Mỵ Nương tức là Mỵ Nương họ Hà.

[6] Quan lang: cũng là cách gọi con trai của tù trưởng. Trong truyện thì Thanh Bình là con trai tù trưởng nên còn gọi là Hà quan lang.

[7] Quan sát: một chức quan nhỏ thời Ngô- Đinh-Tiền Lê.

4 thoughts on “Chương 1: Gây thù kết oán

  1. Chào bạn,

    Tôi vì đi tìm về Thiên mệnh anh hùng nên lạc vào đây, thoáng lướt mắt qua vài dòng Lục thập hoa giáp thì rất ngạc nhiên vì dịch nuột quá, lại trình bày bắt mắt🙂 bèn tò mò đọc thêm thì hoá ra là truyện sáng tác. Tôi rất thích, cả bối cảnh truyện cả văn phong của bạn.
    Từ nay sẽ làm người đọc trung thành của bạn đấy, chúc bạn vững tay! Nhân hôm nay thì cũng chúc bạn Nô en vui vẻ nữa nhé🙂

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s