Chương 13: Chưởng môn (phần 2)

Xuân Lan đi rồi, Tân Bát Nương giao Ngô Bình lại cho Tòng Phương. Mọi người ai nấy cùng đi vào ngôi miếu, tranh thủ nghỉ ngơi chờ Xuân Lan quay lại.

Chân Ngô Bình tuy còn rất đau, nó vẫn không khỏi hiếu kỳ trước ngôi miếu lạ giữa rừng, bèn háo hức bám tay Tòng Phương khập khiễng bước đến gần, vừa tò mò ngó nghiêng khắp lượt, vừa hỏi:

  • Anh Tòng Phương! Ngôi miếu này sao lại ở đây? Anh có biết là thờ ai không?

Tòng Phương đáp:

  • Thuộc hạ cũng không biết nữa! Khi vừa đến châu Ái, các nữ hiệp đã đi thẳng đến đây.

Ngô Bình nghe Tòng Phương tự xưng là thuộc hạ, liền cằn nhằn:

  • Anh đừng xưng hô như thế, cứ gọi tôi là Bình thôi! Thuộc hạ với cả thiếu trang chủ gì đó, tôi nghe không quen đâu.

Tòng Phương cười nói:

  • Tôi làm sao dám gọi thẳng tên thiếu trang chủ…

Ngô Bình xua tay, nói:

  • Thôi được rồi, anh không chịu thì tôi không nói chuyện với anh nữa.

Tòng Phương có hơi chưng hửng, song lại rối rít đồng ý:

  • Cậu đừng làm thế! Được rồi, Bình, không thuộc hạ hay trang chủ gì nữa!

Ngô Bình cười vui vẻ, đột ngột chuyển chủ đề:

  • Anh Tòng Phương! Chuyện gia đình tôi, tôi không biết gì cả, anh kể lại cho tôi nghe nhé!

Tòng Phương bẽn lẽn cười, đáp:

  • Hôm nay cậu mệt rồi, cần nghỉ ngơi cho lại sức. Đợi khi nào cậu khỏe, tôi sẽ kể cậu nghe.

Nói xong thì vừa vặn đã vào trong ngôi miếu, Tòng Phương bèn đỡ Ngô Bình ngồi tựa tạm vào vách. Các nữ hiệp Thạch Hà phái vào trước đã kịp đốt vài ngọn đuốc. Bên ngoài, trời vẫn chưa sáng hẳn, rừng sâu âm u, ánh mặt trời chưa kịp lọt tới. Ngô Bình không ngừng tò mò đưa mắt nhìn khắp gian thờ. Ngôi miếu đã bị bỏ hoang lâu ngày, bụi đất cùng lá khô lợp đầy nền, tường vách ẩm thấp, rêu phong xanh thẫm bám từng mảng. Ở giữa gian đặt một bàn thờ nhỏ, trên có một tượng gỗ cũng thật nhỏ tạc hình một vị tướng, phía trước là một bát hương, vách tường hai bên bàn thờ còn có bút tích để lại, là một đôi câu đối:

“Nhất phiến trung can huyền nhật nguyệt

Thiên thu chính khí tác sơn hà.”

(Một mảnh gương trung treo sáng như nhật nguyệt

Nghìn thu chính khí còn rung động non sông)

(2)

Ngô Bình còn đang lay hoay cố đọc từng chữ thì Tòng Phương đã ngâm luôn một lượt hai câu. Đoạn, y nói khẽ:

  • Sao đôi câu đối này trông quen quá, hình như mình đã đọc ở đâu rồi!

Ngô Bình tò mò hỏi:

  • Mấy chữ đó có phải nói về người được tạc tượng gỗ kia không?

Tòng Phương bâng quơ đáp, đầu vẫn đang cố nhớ lại:

  • Hẳn là vậy rồi…

Y chưa kịp dứt lời, một người nữa đã lên tiếng, giọng trầm buồn:

  • Là Định Quốc Công! (3)

Ngô Bình và Tòng Phương cùng quay lại nhìn, thấy Kỷ Lục Nương đã đứng phía sau tự lúc nào, vẻ mặt thấp thoáng u uất. Tòng Phương cười trừ, tự vỗ đầu mình, nói :

  • Ồ, thể nào tôi lại thấy quen quen! Trong hậu viện của Mộc Hương trang cũng có treo đôi câu đối này. Nhờ Lục Nương nhắc tôi mới nhớ ra.

Kỷ Lục Nương tỏ vẻ hứng thú, hỏi:

  • Nhà họ Ngô sao lại cũng treo đôi câu đối ấy? Chẳng phải Định Quốc Công là tội thần triều Lê sao?

Tòng Phương chưa kịp đáp, từ ngoài ngôi miếu đã có tiếng bước chân gấp rút truyền đến. Mọi người theo phản xạ nhìn ra cửa, trông rõ bóng dáng thiếu nữ áo đen chập chờn sau gốc cây tán lá, lại vác theo một tay nải to, ai nấy mới thở phào nhẹ nhõm.

Xuân Lan vừa quay lại liền chạy ngay đến cạnh bên xác Đinh Tứ Nương, ánh mắt lấp láy buồn, giọng rì rầm băn khoăn:

  • Các cô cô, chúng ta an táng Đinh cô cô thế nào đây?

Đỗ Xuân Hương đáp:

  • Ta định khi nào ra khỏi rừng sẽ tìm một nơi thích hợp để chôn cất Tứ Nương.

Xuân Hương nói xong thì đến cạnh bên Xuân Lan, đặt tay lên vai nàng, hạ giọng:

  • Như Ý! Sống chết là chuyện khó lường, con đừng quá đau lòng. Ta tin hôm nay thấy con trưởng thành, lại sống chí tình chí nghĩa, hiếu thuận với cha mẹ, Tứ Nương chắc chắn rất an lòng. Đợi khi chúng ta về Thạch Hà rồi, ta sẽ đưa con đến gian thờ Đông Cung công chúa, trao lại Đinh Ngân Trâm cho con, đồng thời công bố chuyện kế vị chưởng môn với tất cả đệ tử.

Xuân Lan bối rối đáp:

  • Di nguyện của Đinh cô cô, con dĩ nhiên phải thuận theo, còn việc công bố kế vị chưởng môn…Đỗ nương nương, con nghĩ không cần phải gấp. Con vừa trở về Thạch Hà, giao tình với các chị em trong phái chưa được bền chặt, võ công cũng còn nhiều chỗ chưa hoàn thiện, nương nương có thể cho con thêm thời gian được không? Huống chi, ngày còn dài tháng còn rộng, trong phái biết đâu lại có người khác xứng đáng kế vị chưởng môn hơn con thì sao?

Bính Tam Nương nghe thấy, liền lên tiếng tán thành:

  • Ta thấy phải đó, cứ để thư thả một thời gian đã. Như Ý về Thạch Hà, trước hết phải làm quen với các đệ tử mới gia nhập, sau lại phải khiến họ thật sự tâm phục khẩu phục Đinh Tứ Nương mới của Thập Can Nương. Nếu chưởng môn công bố người kế vị ngay, các đệ tử còn lại khó tránh khỏi bất ngờ, không chừng lại hành động thiếu chừng mực, khiến nội bộ Thạch Hà bị lục đục. Chi bằng, cứ chờ vài năm nữa cũng không muộn.

Đỗ Xuân Hương gật gù, nói:

  • Tôi mãi lo nghĩ về lời đã hứa với Đào cung chủ, điều Tam Nương vừa nói quả thực chưa kịp nghĩ đến. Cảm ơn Tam Nương đã nhắc nhở! Vậy tôi sẽ theo ý hai người, cho Như Ý thêm thời gian để hòa nhập với mọi người trong phái.

Nói xong, Đỗ Xuân Hương quay sang đốc thúc mọi người quét dọn ngôi miếu, để Xuân Lan và Bính Tam Nương cùng ngồi lại với Đinh Tứ Nương.

Trời lúc này vẫn còn tờ mờ sáng, sương rừng chưa tan hẳn, sau một đêm thức trắng giao chiến mệt mỏi, nhóm người Thạch Hà phái đành lưu lại ngôi miếu thêm nửa ngày. Dù vào lúc trời sáng, họ vẫn cẩn thận chia nhau canh gác, đề phòng người của Linh Cung trở mặt quay lại. Xuân Lan vì đã quen thức đêm nên không thấy mệt mỏi, nàng cùng Đỗ Xuân Hương, Kỷ Lục Nương và Tòng Phương ngồi canh giữ trước cửa miếu.

Ngô Bình vì lạ người nên không ở lại trong miếu mà theo Xuân Lan ra ngoài, lại nằm tựa đầu lên đùi Tòng Phương, mí mắt nhanh chóng khép lại, hơi thở dần đều đặn. Kỷ Lục Nương nhìn nó một lúc, bất giác trở nên bần thần, giọng nặng trĩu:

  • Tội nghiệp thằng bé, cả đêm mỏi mệt! Chị Xuân Hương, thằng bé này làm em nhớ lại tình cảnh của chúng ta hơn mười bảy năm trước, cũng tại nơi này. Năm đó, chị em mình cũng chỉ bằng Bình bây giờ.

Xuân Hương thở dài, đáp:

  • Ta không nghĩ lại có ngày mình phải quay lại đây, bước chân vào ngôi miếu này! Lục Nương cô đừng giận ta nói thẳng, ân oán của ta với Định Quốc Công, ta thật lòng muốn quên nhưng không sao quên được! Bao nhiêu năm qua, ta vì cô, vì lời đã hứa với Ngô Định cố trang chủ, mà tự giữ mình không chấp nhất chuyện cũ. Bây giờ cũng chỉ vì muốn tốt cho hậu duệ của Ngô Định cố trang chủ nên mới buộc lòng phải quay lại đây.

Tòng Phương nghe Xuân Hương nhắc đến Ngô Định, liền ngạc nhiên hỏi:

  • Đỗ chưởng môn, từ lúc theo các vị đến đây, tôi đã rất thắc mắc, không biết tại sao giữa rừng lại có một ngôi miếu nhỏ. Ban nãy nhờ Lục Nương mà biết đây là miếu thờ Định Quốc Công, nay nghe các vị nhắc đến cố trang chủ, lại càng lấy làm khó hiểu. Chẳng lẽ năm xưa các vị đã từng hội ngộ tại nơi này?

Tòng Phương vừa hỏi xong, Ngô Bình đang nằm trên đùi y bỗng cựa mình, y bèn nhẹ nhàng kéo tấm áo choàng phủ lên người nó, sợ gió rừng ban sớm lùa vào khiến nó lạnh nên ngủ không ngon giấc.

Kỳ thực, từ lúc nằm xuống, Ngô Bình đã không sao ngủ được. Những chuyện vừa xảy ra cứ quấn lấy tâm trí nó khiến nó băn khoăn không dứt. Tuy vậy, nó vẫn cố nhắm mắt, vờ như đã ngủ say để mọi người khỏi bận lòng. Đang lúc tự mình đánh vật với cơn mệt mỏi, nó lại nghe thấy Xuân Hương và Tòng Phương nhắc đến một người gọi là Ngô Định cố trang chủ. Biết người đó chính là họ hàng trực hệ với mình, nó bèn cựa mình đổi tư thế để dễ bề lắng nghe, mắt vẫn cố nhắm nghiền nhằm giữ cho câu chuyện của bốn người kia không bị gián đoạn.

Tòng Phương kéo áo đắp cho Ngô Bình xong thì ngẩng đầu nhìn hai nữ hiệp của Thạch Hà phái. Họ chỉ im lặng, ánh mắt đượm vẻ sầu muộn. Một lúc sau, Đỗ Xuân Hương nói, âm giọng rất nhỏ:

  • Lẽ ra không nên nhắc lại làm gì, nhưng vì hôm nay có Như Ý ở đây, các nữ hiệp kia cũng đang say ngủ, hiếm có dịp nào khác riêng tư hơn. Thêm nữa, chuyện cũng có liên quan ít nhiều đến Ngô Định cố trang chủ, vốn nên nói lại để Lê trang chủ được rõ.

Rồi Xuân Hương thở nhẹ một hơi, trầm giọng kể:

  • Ta trước đây tên là Đỗ Thị Thanh Hương, cháu gái của một vị giữ chức chi hậu nội nhân trong cung. Hẳn các vị đã từng nghe đến tên của bác ấy rồi, tên là Đỗ Thích.

Tòng Phương không khỏi kinh ngạc, bật hỏi:

  • Phải chăng chính là…chính là kẻ đã hành thích cha con Đinh Tiên Hoàng?

Nói xong, y mới thấy mình quá lời, dù sao cũng là bậc chú bác của Đỗ Xuân Hương. Xuân Hương quả nhiên phật ý, song chỉ cười nhạt rồi nói tiếp:

  • Hai chữ hành thích ấy thật quá nặng nề, ông bác tội nghiệp của ta vì vậy mà phải gánh luôn cả bốn chữ “đại nghịch bất đạo”, ngàn đời không sao gột sạch. Bác Thích lúc còn trẻ đã tận tụy theo hầu họ Đinh. Trong một lần Đinh Tiên Hoàng còn là sứ quân, bị thuộc cấp của Nam Tấn Vương (4) truy đuổi, Tiên Hoàng kiệt sức đến không nhấc nổi hai bàn chân. Lúc ấy, chính bác Thích là người đã cõng ngài chạy cả một quãng đường dài, nhờ vậy mà không bị rơi vào tay Nam Tấn Vương. Lê trang chủ, ngài nghĩ xem, người như vậy há có thể dễ dàng chỉ vì một giấc mơ nuốt tinh tú vô căn cứ mà đang tâm giết hại cả hai cha con Đinh Tiên Hoàng, mưu đồ chiếm đoạt ngôi báu hay không? Huống chi, lúc ấy bác Thích lại chỉ là một hoạn quan!

Xuân Hương nhắc đến chuyện cũ, nhất thời xúc động nghẹn ngào rồi lặng đi một hồi. Xuân Lan và Tòng Phương đều cảm thấy sửng sốt cùng tò mò nhưng chẳng ai dám mở miệng hỏi, chỉ ngồi yên kiên nhẫn chờ đợi.

Kỷ Lục Nương thần sắc vẫn còn trầm tư, đưa tay khoác lên vai Xuân Hương, nhẹ nhàng nói:

  • Chị Xuân Hương, chuyện đã qua không nhất thiết phải nhắc lại…

Đỗ Xuân Hương nhẹ xua tay, nói như trấn an:

  • Ta không sao!

Nói rồi, nàng hắng giọng, nhanh chóng lấy lại vẻ điềm đạm, từ từ kể lại chuyện xưa:

  • Năm ta lên mười, bác Thích thấy ta mặt mày sáng sủa, lại linh lợi hoạt bát, bèn đưa vào cung của Dương hoàng hậu làm thị nữ. Trước khi ta nhập cung, bác Thích có dặn dò, phàm việc gì bất thường xảy ra trong cung đều phải bí mật bẩm báo lại với bác. Nhiệm vụ của ta khi đó cũng rất đơn giản, ngày ngày bưng khăn hầu hoàng hậu rửa mặt, hằng tuần theo các cung nữ đi hái sen. Trong số các cung nữ lúc ấy có một người là em họ của Dương hoàng hậu, nàng ta rất ít nói, hành tung cũng khác lạ. Ta vốn để tâm quan sát, thấy tuần nào nàng cũng trốn việc hái sen, các cung nữ khác đều biết chuyện nhưng chẳng ai dám nói gì vì sợ hoàng hậu quở trách. Ban đầu ta cũng cho rằng nàng cậy thế hoàng hậu, lười biếng không chịu dãi nắng dầm mưa, nhưng khi để tâm hơn thì thấy trong tất cả các việc còn lại nàng đều rất chăm chỉ, cũng chưa từng gây sự với ai. Lấy làm lạ, lần nọ ta liều lĩnh theo dõi thì sửng sốt phát hiện ra nàng trốn hái sen để tình tự cùng một nam nhân tại hoa viên ngay sau điện hoàng hậu. Biết họ đã phạm vào giới luật cấm cung, ta dù hoảng sợ nhưng vẫn cố trấn tĩnh, tiếp tục theo dõi bọn họ. Khoảng nửa canh giờ sau, ta lại càng kinh ngạc hơn khi chính mắt trông thấy một võ quan bước ra khỏi cửa sau điện hoàng hậu. Hai kẻ đang tự tình nghe động bèn bình tĩnh ẩn nấp như thể đã chứng kiến việc ấy rất nhiều lần rồi. Sau khi võ quan khuất bóng, nam nhân kia cũng rời khỏi. Ta tuy không nhận ra người lén lút hẹn hò với cung nữ họ Dương, nhưng vị võ quan bước ra từ điện hoàng hậu thì cả hoàng cung ai cũng biết mặt, ông ta giữ chức Thập đạo tướng quân, Điện tiền đô chỉ huy sứ, chính là hoàng đế hiện nay của Đại Cồ Việt.

Cả Tòng Phương và Xuân Lan đều cùng tròn mắt kinh ngạc. Tòng Phương bất mãn hỏi:

  • Chẳng lẽ, Dương hậu vốn đã…cùng Đại Hành hoàng đế ngay từ trước khi Đinh Tiên Hoàng băng hà sao?

Xuân Hương nhẹ lắc đầu, nói:

  • Thật ra chuyện này ta vẫn chưa rõ. Ta nghe bác Thích nói, vua Lê Đại Hành và Dương hoàng hậu trước đây là chỗ bạn bè rất thân thiết, có thể họ chỉ gặp nhau để trò chuyện, nhưng vì cung quy nên phải lén lút. Mọi chuyện sau đó ta vờ như chưa hề trông thấy, quay lại chỗ hái sen, tiếp tục làm xong việc rồi bình thản trở về. Ngay tối hôm đó, chờ cho hoàng hậu ngủ rồi, ta chạy sang chỗ bác Thích kể lại mọi chuyện. Bác ta nghe xong, thoạt đầu cũng cảm thấy bất an, nhưng ngay sau đó liền dặn dò ta phải thận trọng, đừng để chuyện lộ ra ngoài. Bác còn bảo ta tuần sau tiếp tục đi theo cung nữ họ Dương, nhưng hãy giả vờ để cho họ phát hiện, cốt là để bọn họ lẫn hoàng hậu và thập đạo tướng quân vì vậy mà thận trọng hơn, đừng gặp nhau nữa. Ta đã làm đúng như vậy, sau đó lại đến chỗ bác Thích thuật lại. Hai bác cháu những tưởng sang đến tuần sau thì bốn người bọn họ không từng cặp một lén lút gặp gỡ nữa, nào đâu mọi chuyện vẫn cứ tiếp diễn. Bác Thích bèn dặn dò ta hãy khéo léo tìm cách nói cho hoàng hậu biết chuyện em họ bà ấy đã lén lút gặp gỡ nam nhân mỗi tuần. Ta chờ mãi chẳng thấy dịp nào thuận lợi thì một hôm đột nhiên hoàng hậu ngỏ ý muốn gả em họ bà ấy cho một võ quan nào đó. Ta lúc ấy liền giả vờ cười khúc khích rồi bảo: “Bẩm hoàng hậu, chị ấy tuần nào cũng trốn đi hái sen để cùng người ta tình tự nơi hoa viên…”. Quả nhiên, cả hoàng hậu và cung nữ họ Dương sắc mặt lập tức chuyển sang trắng bệch, cung nữ họ Dương còn làm đổ cả chậu nước trên tay. Dương hậu vốn rất nhanh nhạy, lập tức kiếm cớ đuổi ta ra ngoài. Hai tháng sau đó, Dương hậu gả cung nữ họ Dương cho người mà nàng ta vẫn gặp nơi hoa viên hằng tuần, đồng thời bà cũng không gặp gỡ Thập đạo tướng quân đều đặn nữa. Lúc đó ta mới biết, nam nhân nơi hoa viên ấy hóa ra là nghĩa đệ của Đại Hành hoàng đế. Tiếng tăm ông ta hiện nay trên giang hồ vô cùng lừng lẫy, chính là đại cao thủ môn Thạch Ngọc Trảo, Nhân Trí Vương Lê Thám.

Một lần nữa, cả Tòng Phương và Xuân Lan cùng không nén nổi kinh ngạc, Tòng Phương lại hỏi:

  • Có phải là vị đại vương năm xưa đã cầu thân trang chủ phu nhân của chúng tôi không?

Xuân Hương nhẹ gật đầu, nói:

  • Nếu năm đó việc đưa dâu không bị Trần Gia Bang nhúng tay vào, thì giờ này cũng đã không nảy sinh biết bao nhiêu chuyện phiền phức rồi!

Tòng Phương lập tức bật cười, tỏ vẻ không tán thành, mắt nhìn xuống chỗ Ngô Bình đang nằm, nói:

  • Riêng chuyện này thì tôi không đồng tình với chưởng môn đâu. Chính nhờ bọn thích phá đám ấy mà cha mẹ của Bình mới gặp nhau. Tôi và chị Vân Hương xưa kia còn cho rằng nếu trang chủ phu nhân về Hoa Lư làm vương phi, có lẽ trang chủ của chúng tôi cả đời sẽ chẳng chịu để tâm đến ai khác. Mà nếu là vậy thì bây giờ làm gì có thằng bé này trên đời.

Ngô Bình nghe nhắc đến cha mẹ mình, lòng liền thấy bồi hồi, tim đập nhanh thêm từng nhịp, phải cố gắng lắm nó mới điều hòa được nhịp thở của mình.

Đỗ Xuân Hương lại nói tiếp:

  • Có lẽ cậu đúng, duyên nợ ở đời quả là khó nói. Kẻ ngoài cuộc như ta khó tránh khỏi việc phán xét không hợp tình hợp lý_Nàng cười nhẹ rồi kể tiếp_Sau khi Dương cung nữ rời cung, Dương hậu liền chuyển ta sang cung của hoàng hậu Ca Ông (5). Ta ở với hoàng hậu Ca Ông được chừng một năm thì bà ấy giao trả ta về chỗ của bác Thích. Ta cứ tưởng mọi chuyện sẽ bình yên trôi qua, nào ngờ hai năm sau, sóng gió mới thật sự nổi lên. Trong một lần đi tuần trở về, bác Thích dẫn theo ta đến đại điện, định vào yết kiến Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt Vương Đinh Liễn đang dùng bữa ở đấy. Nào ngờ, khi bọn ta bước vào, xung quanh đại điện không một bóng người, chỉ có cha con Đinh Tiên Hoàng nằm gục bất động trên bàn. Bác Thích đến gần xem xét, kinh hoàng nhận ra cả hai đều đã chết. Quá hoang mang, lại sợ bị khép vào tội phản nghịch, bác Thích bèn bảo ta nhanh chóng chạy đi tìm Dương hậu báo tin. Nhưng khi ta vừa rời khỏi đó, đã thấy thị vệ rầm rầm chạy dọc hành lang. Ta sợ hãi trốn vào một bụi cây để nghe ngóng. Gần như ngay lúc ấy, ta vô cùng ngạc nhiên khi từ trong đại điện vọng ra tiếng than khóc thê lương của Dương hoàng hậu, tiếng các cung nữ khác xôn xao, lại có cả tiếng quát tháo của Thập đạo tướng quân, lệnh cho thị vệ lập tức tỏa ra tìm thích khách. Ta bàng hoàng không biết bác Thích đã kịp chạy ra ngoài hay chưa, cũng băn khoăn tự hỏi không biết tại sao Dương hậu và Thập đạo tướng quân biết chuyện mà cùng đến một lúc. Khi ta và bác Thích trông thấy xác của hai cha con Đinh Tiên Hoàng, rõ ràng xung quanh không hề có người. Ta sợ hãi, chờ cho thật khuya mới dám bò ra khỏi bụi cây. Cũng may vóc người ta nhỏ bé, khi ấy lại chỉ mới mười ba tuổi nên chẳng ai để tâm đến. Ta dễ dàng chạy khỏi đại điện. Hai ngày sau, chờ mãi vẫn không thấy bác Thích quay về, ta lo lắng tìm đến đại điện lần nữa, một mặt cùng các cung nữ khác lo chuyện tang sự, mặt khác nghe ngóng tin tức về bác Thích. Chiều hôm đó, đột nhiên có trận mưa to, ta tần ngần đứng suy tư trước thềm điện, mắt ngước lên nhìn trời. Bỗng nhiên, từ mái điện có một bàn tay gầy gò quen thuộc thò ra hứng nước mưa, ta định thần nhìn lại thì nhận ra ngay chính là tay của bác Thích. Thì ra hai hôm trước, khi bọn thị vệ của Thập đạo tướng quân và Dương hoàng hậu bất ngờ ập đến, bác Thích đã quá sợ hãi mà nhảy vội lên mái điện, ẩn nấp trên đó. Ta đoán ra sự thể, bèn mừng rỡ chạy luôn ra ngoài, gọi lớn: “Chi hậu nội nhân, có phải ngài không?”. Lúc ấy, ta vô ý không kiềm cho giọng nhỏ lại, một phần cũng vì trời đang mưa to, sợ bác ấy không nghe thấy tiếng ta gọi. Ta vừa dứt lời, thị vệ và cung nữ trong đại điện liền lập tức xông tới, giận giữ trèo lên mái điện lôi bác ấy xuống. Khi đó, trông bác ấy thật thảm thương, ba ngày chịu đói chịu khát, thân thể rã rời, đầu tóc rối bù. Bọn họ quy cho bác ấy là thích khách, đổ cho bác ấy tội giết vua. Ta khóc lóc toan nhảy vào can ngăn, chợt nhìn thấy ánh mắt bác ấy trừng lên cảnh báo, ta liền sững người lại. Trong lúc ta còn chần chừ, cả Dương hậu cùng bốn hoàng hậu và các phi tần khác đã kịp chạy đến, vừa than khóc vừa hết lời chửi rủa bác Thích. Một lúc sau, cả Thập đạo tướng quân, Định Quốc Công Nguyễn Bặc và các võ tướng như Tướng quân Đinh Điền, anh em tướng quân Phạm Hạp, Phạm Cự Lạng cũng đến. Trong cơn phẫn nộ cùng cực, Định Quốc Công đã nặng lời chửi rủa bác Thích, khép bác vào tội đại nghịch bất đạo. Bác Thích chịu đói chịu khát đã ba ngày, không còn nói ra hơi, chỉ thì thào được mấy chữ oan uổng thì Định Quốc công đã đạp mạnh vào người bác ấy rồi vừa khóc vừa gọi Tiên Hoàng. Xong, Định Quốc Công bất thần rút gươm chém chết bác Thích tại chỗ, sau đó còn lớn tiếng ra lệnh cho thị vệ đem bác Thích đi xẻ thịt (6), đập cho xương nát ra.

Nói đến đó, đôi mắt Đỗ chưởng môn ngấn lệ, giọng lại nghẹn đi. Nàng đưa tay lau nhanh qua mắt, tự mình trấn tĩnh nói tiếp:

  • Cái chết thê thảm của bác Thích khiến ta sợ hãi đến tinh thần bấn loạn. Ta hoang mang tìm đường chạy khỏi hoàng cung. Khi đã qua khỏi cửa lớn, ta bước đi trong thành Hoa Lư như người mất hồn. Trời vẫn còn đổ mưa rất to, mọi người đều lo tìm chỗ trú, chẳng ai để ý đến ta. Ta cứ đi như vậy được một lúc thì bị một toán quân chặn lại. Họ lớn tiếng hỏi ta có phải là cung nữ họ Đỗ hay không. Ta sợ hãi vô cùng, còn đang không hiểu vì sao họ muốn tìm mình thì chỉ huy của họ đã đến. Ta nhận ra ngay người đó chính là Lê Thám. Y vừa trông thấy ta, liền bảo không phải rồi lệnh cho đám thị vệ tản ra tìm chỗ khác, còn y thì dẫn ta vào một quán nước. Tại đó, ta đã khóc lóc kể với Lê Thám mọi chuyện, y kiên nhẫn lắng nghe từ đầu đến cuối. Sau khi ta kể xong, y bảo rằng Dương hậu đang truy lùng ta vì bà biết ta chính là cháu gái của bác Thích. Rồi y đưa cho ta một nén bạc cùng vài đồng lẻ, tìm tạm cho ta chỗ trọ qua đêm, sau đó dặn ta sáng sớm phải lập tức rời khỏi Hoa Lư, đi càng xa càng tốt. Sở dĩ Lê Thám chừa cho ta một con đường sống là vì cảm kích chuyện cũ, lại vì ta cũng còn nhỏ nên không nỡ bắt về hoàng cung. Sáng sớm hôm sau, khi mặt trời còn chưa mọc, Lê Thám đã bố trí cho một người phu xe đưa ta rời kinh thành đến châu Ái. Ta ở châu Ái được vài tuần thì nghe tin phản quân cũng đang chạy đến châu Ái, trong bụng lấy làm bất ngờ lắm. Vua vừa mất, Phế Đế (7) lên ngôi chưa bao lâu đã có kẻ làm phản. Ta bèn dò hỏi xung quanh, lại càng bất ngờ hơn khi biết đám phản quân ấy hóa ra do Định Quốc Công Nguyễn Bặc, Ngoại giáp Đinh Điền và tướng quân Phạm Hạp cầm đầu. Họ kéo quân toan đánh vào Hoa Lư thì bị quân của Thập đạo tướng quân, bấy giờ đã là Phó vương, đánh đuổi, đành phải chạy về châu Ái. Ta vẫn còn ghi hận chuyện Định Quốc Công đã giết chết bác Thích, bèn tìm cách trà trộn vào đám phản quân, toan tiếp cận ông ta để trả thù. Trong đám người ấy, ta tình cờ kết giao với con gái của Định Quốc Công, lúc đó, cô ta cũng chỉ chừng tám chín tuổi, chính là Kỷ Lục Nương.

Xuân Lan và Tòng Phương không hẹn mà cùng quay sang nhìn Kỷ Lục Nương, đây đã là lần thứ tư họ bị câu chuyện của Xuân Hương làm cho bất ngờ. Kỷ Lục Nương cười buồn đáp lại ánh nhìn ngạc nhiên của hai người, từ tốn tiếp lời Xuân Hương:

  • Tôi họ Nguyễn, tên Tiết. Mẹ tôi chỉ là một người thiếp của cha tôi. Năm tôi lên tám, kinh thành có biến, Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt Vương cùng bị sát hại. Cha tôi và các đại thần khác đều một lòng tôn phò Phế Đế, con Dương hậu, lên ngôi. Nhưng khi ấy Phế Đế vẫn còn quá nhỏ, Dương hậu vì vậy đã trao quyền nhiếp chính cho Thập đạo tướng quân, ngay sau đó ông ta đã tự xưng là Phó vương. Cha tôi khi ấy rất ngạc nhiên, các bậc lão thần trong triều không thiếu, lại một lòng trung can tiết liệt với cha con Đinh Tiên Hoàng, vậy mà Dương hoàng hậu lại giao quyền bính vào tay Thập đạo tướng quân, năm ấy vẫn chưa qua bốn mươi tuổi. Cha tôi và các vị ngoại giáp Đinh Điền, tướng quân Phạm Hạp liền nghi ngờ Dương hậu và Thập đạo tướng quân có quan hệ bất chính, bèn thận trọng rút khỏi Hoa Lư, đem theo gia quyến đến châu Ái. Tại châu Ái, sau khi cùng nhau họp bàn và nhìn lại mọi chuyện, cha tôi và hai vị kia mới nhận ra có chút bất ổn trong vụ cha con Đinh Tiên Hoàng bị hành thích. Trước đó, thái tử nhỏ tuổi Đinh Hạng Lang đã bị chính Nam Việt Vương giết chết trong cơn bấn loạn. Tiên Hoàng dù thương xót con nhỏ nhưng cũng không nỡ trách phạt con trưởng đã bao phen cùng mình vào sinh ra tử, bèn tha tội cho Nam Việt Vương. Nếu không có gì bất trắc xảy ra, người kế vị sau này phải là Nam Việt Vương. Vậy nên, khi cả hai cha con Đinh Tiên Hoàng cùng mất, người được lợi nhất chính là Dương hoàng hậu. Phế Đế Đinh Toàn là con trai duy nhất còn lại của Tiên Hoàng, ắt sẽ được kế vị. Địa vị của Dương hậu cũng vì thế mà được củng cố so với bốn hoàng hậu còn lại. Cha tôi và hai vị đại thần liền nghi ngờ vụ hành thích cha con Tiên Hoàng có liên quan đến Dương hậu và Thập đạo tướng quân. Họ sau khi suy xét mọi bề, sợ rằng Phế Đế chưa kịp trưởng thành thì cơ nghiệp họ Đinh sẽ rơi vào tay họ Lê, bèn quyết định chia nhau đánh vào Hoa Lư, buộc đích thân Phó vương phải ra trận. Cha tôi và hai vị kia mặc dù nằm ở thế chủ động, nhưng Phó vương vốn là một tướng tài, binh lực trong tay lại đông và mạnh, vì vậy mà chưa vào được Hoa Lư thì quân của cha tôi và tướng quân Đinh Điền đã bị đánh đuổi, phải chạy về châu Ái. Các vị ấy tuy một lòng tận trung với nhà Đinh, nhưng việc khởi quân ngay khi Tiên Hoàng vừa mất chẳng khác nào tạo phản, vì vậy khi vừa về đến châu Ái, họ đã dắt theo binh lính và gia quyến tạm lánh đi nơi khác để khỏi bị tàn sát dưới tay Phó vương. Ngày hôm ấy, bọn tôi đã chạy vào khu rừng này. Trong đoàn người chạy trốn có gia quyến của cả hai bên nên hầu như chẳng ai biết mặt ai. Dọc đường, tôi kết giao với một cô bé hơn mình vài tuổi, khi ấy, tôi cứ nghĩ chị ta là người nhà của tướng quân Đinh Điền, bọn tôi chơi với nhau rất hợp. Nào ngờ khi đêm xuống, chị ta canh lúc tôi đang ngủ say, tìm đến chỗ cha tôi toan giết chết ông ấy. Mọi chuyện bị phát giác, chị bị cha tôi và Đinh tướng quân khống chế. Lúc đó, chị ấy chẳng hề tỏ vẻ sợ hãi, chỉ trừng mắt nhìn hai vị rồi bảo là sẽ trả thù cho chi hậu nội nhân. Cha tôi nghe nhắc đến chi hậu nội nhân, sắc mặt bỗng tái mét, bèn hỏi chị ấy là ai, tại sao lại muốn báo thù. Chị ấy kể lại mọi chuyện bằng giọng điệu oán hận. Cha tôi nghe xong, tin rằng chị không nói dối, cảm thấy vô cùng hối hận vì đã vội vàng giết người. Hai vị xúc động cùng quỳ xuống, vừa khóc vừa gọi Tiên Hoàng, lại vừa đấm ngực tự trách mình đã hành sự bất cẩn khiến cơ nghiệp họ Đinh đang dần bị hủy hoại trong tay họ Lê. Cô bé kia chính là chị Xuân Hương, trông thấy vậy thì càng oán hận bởi hai vị ấy đến lúc này vẫn không nói một lời xin lỗi nào trước vong hồn quan chi hậu nội nhân. Chị bèn thừa lúc hai vị vẫn chưa đứng dậy, lao đến toan đâm mạnh vào người cha tôi một nhát. Nào ngờ, dao chưa kịp cắm xuống thì từ đâu một mũi tên đã bắn đến trúng vào ngay lưỡi khiến con dao văng khỏi tay chị Xuân Hương. Hóa ra, đêm hôm khuya khoắt, bọn chúng tôi đã bị quân của Phó vương âm thầm bám theo tập kích. Hàng loạt mũi tên bắn tới rào rào khiến đoàn người trở nên hỗn loạn. Cha tôi và các vị kia vội vàng đứng dậy, tìm đường cho gia quyến và binh sĩ tháo chạy, nhưng quân của Phó Vương đã kịp ập đến. Tôi từ lúc phát hiện chị Xuân Hương gây náo loạn thì chỉ trốn trong bụi cây gần đó để quan sát, vừa thấy mưa tên bắn đến liền vội giơ tay kéo luôn chị ấy vào. Lùm cây ấy tuy không to nhưng cũng đủ che giấu hai đứa trẻ. Quân Phó Vương chỉ trong nháy mắt đã bắt giữ được cha tôi và tướng quân Đinh Điền cùng gia quyến hai bên. Binh sĩ của cha tôi chết quá nửa, số còn lại đều bị thương. Phó Vương liền đem giải tất cả ra khỏi rừng. Tôi và chị Xuân Hương ngồi trong bụi cây chứng kiến mọi việc. Hôm đó, chúng tôi bị kiến và côn trùng bò lên cắn khắp mình, rất đau nhưng phải cố gắng chịu đựng, sợ hãi đến độ không dám cựa quậy. Khi tất cả đều đã rút khỏi khu rừng, bọn tôi chưa kịp bò ra thì một tốp người khác lại đến. Họ cưỡi ngựa đi tới từ hướng khác nên chúng tôi biết họ không phải quân của Phó vương. Nhóm người ấy chỉ chừng hơn mười người, đều mặc y phục màu trắng, dẫn đầu là một người đàn ông trung niên, gương mặt hiền từ, phong thái điềm đạm. Vừa đến nơi, trông thấy mũi tên vương vãi khắp nơi, dấu máu còn để lại trên gốc cây ngọn cỏ, đồ đạc hành lý bị bỏ đầy trên đất, ông ta bèn thở dài, nét mặt nhanh chóng trở nên sầu não. Bọn tôi trốn trong lùm cây, nghe ông ta nói chuyện với thuộc hạ thì biết ông đến để trợ giúp cha tôi. Tôi liền kéo chị Xuân Hương nhảy khỏi chỗ ẩn nấp, kể rõ sự tình với ông. Người đàn ông áo trắng ấy chính là Ngô Định cố trang chủ của Mộc Hương trang các vị.

Tòng Phương nghe đến đây, bèn bồi hồi hồi tưởng:

  • Thảo nào, năm đó cố trang chủ dắt theo vài thuộc hạ xuống vùng đồng bằng, chừng sau hơn hai tháng mới quay về. Ban nãy, Lục Nương có nhân vụ câu đối mà hỏi đến quan hệ giữa Ngô gia và Định Quốc Công. Tiện đây cũng xin trả lời, phu nhân của Ngô Định cố trang chủ chúng tôi là em họ của Định Quốc Công. Được biết sau khi Phó vương giải Định Quốc Công và Đinh tướng quân về kinh, tuy xử tử họ nhưng nghĩ họ đều là bậc khai quốc công thần, đã tha cho toàn bộ gia quyến. Ngoại giáp Đinh Điền về sau cũng bị bắt rồi xử tử. Sau đó vài tháng, giặc Tống kéo đến, Dương hậu bèn trao luôn đế vị cho Phó Vương. Mặc dù Đại Hành hoàng đế có công đánh Tống, nhưng chính vì chuyện ông nhận lấy đế vị, sau lại công khai lập luôn cả Dương hậu làm hoàng hậu của mình đã khiến cho nhân dân trong nước xầm xì không ít. Thân tộc của Dương hậu năm ấy còn có nhiều người bất mãn bỏ đi nơi khác sinh sống, thậm chí đổi sang họ Giang để tỏ ý loại bà ra khỏi dòng họ. Tôi đoán một vài nhân sĩ lúc ấy đã nhìn nhận chuyện Định Quốc Công và hai vị Đinh, Phạm tướng quân khởi binh không phải là muốn làm phản mà chỉ là một lòng tận trung với triều Đinh, bèn viết nên đôi câu đối kia rồi cố ý đồn đại trong dân. Còn như đôi câu đối được treo ở hậu viện Mộc Hương trang từ lúc nào thì thực lòng tôi cũng không biết.

Đỗ Xuân Hương sau một hồi thinh lặng, nghe đến đây liền nói:

  • Ngôi miếu này là do người của Mộc Hương sơn trang xây nên, đôi câu đối ấy cũng chính do Ngô Định cố trang chủ viết chứ không phải sau này mới có như Lê trang chủ lầm tưởng.

Tòng Phương bất ngờ nói:

  • Ra là vậy! Đỗ chưởng môn từng nói trong quá khứ có chịu ơn trang chủ chúng tôi, phải chăng cũng chính là lúc đó? Vì sau lần ấy trở về, được chừng một năm, cố trang chủ bỗng nhiên mắc bệnh lạ rồi qua đời. Các vị nữ hiệp cũng kể từ dạo đó bế quan trong Thạch Cung, mãi đến bốn năm sau Đinh nữ hiệp mới đưa tiểu thư Như Ý lên Mộc Châu.

Xuân Hương đáp:

  • Quả đúng là vậy! Năm đó cả ta và Lục Nương đều còn nhỏ, ta lại quen sống lâu ngày trong cung cấm, làm sao chịu nổi cảnh bơ vơ giữa rừng. Nếu không may mắn gặp được Ngô Định cố trang chủ, có lẽ hai người bọn ta đã làm mồi cho thú dữ rồi. Sau khi kể lại mọi chuyện cho Ngô Định cố trang chủ, ta có ngỏ ý muốn nhờ ông ấy nghĩ cách rửa oan cho bác Thích. Ông ấy chỉ buồn bã thở dài rồi khuyên bảo, lời ông ấy nói cách đây mười bảy năm, đến giờ ta vẫn còn ghi nhớ không sót một chữ: “Cô bé, ở đời có những chuyện dù cho là sự thật cũng không được nói ra, bởi vì sự thật ấy nếu được phơi bày sẽ lại gây nên biết bao sóng gió. Bây giờ cô còn nhỏ, lời ta vừa nói ắt sẽ làm cho cô bất mãn, nhưng nếu cô chịu tin ta, vài năm sau sẽ không phải hối hận.”. Lời ấy quả thật rất khó chấp nhận, ta đã vừa khóc vừa trách móc nhưng ông ấy đều bỏ ngoài tai. Ông ấy sai thuộc hạ dẫn bọn ta về một nhà trọ, canh giữ rất chặt vì sợ ta sẽ bỏ trốn. Lúc ấy, bọn ta chưa đi vội mà ở lại châu Ái vài ngày để dò xem còn ai trong số đoàn người hôm đó may mắn trốn thoát hay không. Khoảng một tuần sau, tin xử chém Định Quốc Công và tướng quân Đinh Điền truyền đến châu Ái, ngoài ra, việc Phó vương tha cho gia quyến cũng khiến Ngô Định cố trang chủ an tâm hơn, ông không phải lo lắng tìm kiếm người thân của hai vị kia nữa. Ngay đêm đó, ông đã dẫn theo một số thuộc hạ quay lại khu rừng này để xây miếu thờ Định Quốc Công. Họ dựng miếu chừng ba ngày là xong. Trước khi rời khỏi châu Ái, Ngô trang chủ đã dẫn theo bọn ta đến đây để Lục Nương được bái lạy vong hồn Định Quốc Công. Sau đó, ông lại đưa ta và Lục Nương xuống vùng châu Thạch Hà, làm đệ tử của Thạch Hà nữ phái. Khúc chưởng môn của Thạch Hà phái năm đó là một cụ bà đã gần bảy mươi nhưng vẫn còn rất sáng suốt, lại cực kì nghiêm khắc. Ngô Định cố trang chủ giao bọn ta cho bà rồi cùng thuộc hạ quay về đạo Lâm Tây. Từ dạo đó, ta và Lục Nương trở thành đệ tử của Thạch Hà nữ phái. Trong khoảng một tháng đầu, ta vẫn còn chưa quên được chuyện của bác Thích, đã năm lần bảy lượt tìm cách trốn khỏi Thạch Hà, lần nào cũng bị bắt về phạt đòn rất nặng. Tuy vậy, ta vẫn không bỏ cuộc. Cho đến lần nọ…

Đỗ Xuân Hương vừa kể vừa hồi tưởng. Kí ức năm nào lại ùa về, sống động như chỉ mới xảy ra ngày hôm qua…

Chú thích:

(2)  Nhất phiến trung can huyền nhật nguyệt/ Thiên thu chính khí tác sơn hà: đôi câu đối tại đền thờ Định Quốc công, thuộc thôn Khê Đầu Thượng, xã Ninh Xuân, huyện Hoa Lư.

(3)  Nam Tấn Vương: Tức Ngô Xương Văn, con trai thứ hai của Ngô Quyền. Anh trai của Xương Văn là Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập. Hai anh em cùng trị vì đất nước từ năm 951 đến 954, sử thường gọi giai đoạn này là thời Hậu Ngô Vương.

(4)  Hoàng hậu Ca Ông: Một trong 5 hoàng hậu của Đinh Tiên Hoàng. Bốn bà hoàng hậu còn lại là các bà Đan Gia, Trinh Minh, Kiều Quốc, Cồ Quốc. Không rõ Dương Vân Nga là bà nào trong số bốn bà còn lại.

(5)  Xẻ thịt Đỗ Thích: Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, “Mùa đông, tháng mười, Chi hậu nội nhân Đỗ Thích giết vua ở sân cung. Bọn Định quốc công Nguyễn Bặc bắt được đem giết. Trước đó Đỗ Thích làm chức lại ở Đồng Quan, đêm nằm trên cầu, bỗng thấy sao sa rơi vào miệng, Thích cho là điềm tốt, bèn nảy ra ý định giết vua. Đến đây, nhân lúc vua ăn yến ban đêm, say rượu nằm trong sân, Thích bèn giết chết, lại giết luôn cả Nam Việt Vương Liễn.Khi ấy lệnh lùng bắt hung thủ rất gấp, Thích phải lén núp ở máng nước trong cung qua ba ngày, khát lắm, gặp lúc trời mưa thò tay hứng nước uống, cung nữ trông thấy liền đi báo. Định quốc công Nguyễn Bặc sai người bắt đem chém, đập nát xương, băm thịt ra từng mảnh, chia cho người trong nước ăn, chẳng ai không tranh lấy mà nhai nuốt.”

(6)  Đinh Phế Đế: Tức Vệ Vương Đinh Toàn, con của Đinh Tiên Hoàng và hoàng hậu Dương Vân Nga.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s