Chương 14: Cố nhân (phần 1)

Chiêm Thành, Chân Lạp, Ai Lao

Vờ câm giả điếc chịu bao thăng trầm.

Hết tiều phu, lại gia nhân

Trăm cay nghìn đắng, nhọc nhằn ngược xuôi.

Phần 1:

Đi bộ gần ba canh giờ, nhóm người của Thạch Hà nữ phái đã ra khỏi khu rừng, lại mất thêm nửa canh giờ nữa, họ mới đến được một ngôi làng nhỏ gọi là làng Tam Điền. Mười nữ hiệp cùng ba người Tòng Phương, Xuân Lan và Ngô Bình không vội vào làng mà đến nghĩa địa vùng ven để an táng Đinh Tứ Nương. Họ dựng cho Tứ Nương một ngôi mộ đơn sơ theo đúng tục lệ của Thạch Hà phái, rồi cùng lặng lẽ cúi đầu đứng vây quanh gò đất mới đắp, sắc mặt thê lương buồn thảm, nhưng không hề có tiếng khóc than. Xuân Lan thoạt đầu còn sụt sùi bên mộ, lúc sau ngẩng đầu lên nhìn mới thấy mọi người ai nấy đều đầy vẻ kiềm nén, bèn nghẹn ngào gọi:

  • Các cô cô!

Đỗ Xuân Hương hiểu ý, liền hắng giọng giải thích:

  • Như Ý! Con rời phái chúng ta từ nhỏ, có những chuyện còn chưa biết. Năm xưa, khi Khúc chưởng môn vào lúc hấp hối, các môn sinh tề tựu lại bên giường, vì sợ cảnh chia ly nên mọi người đều không cầm được nước mắt. Khúc chưởng môn trông thấy, mới trấn an mấy lượt, nhưng vẫn chẳng ai chịu nín, bà liền nổi giận cố thều thào nói: “Sinh lão bệnh tử là quy luật tự nhiên. Đời người trải qua đầy đủ cả bốn giai đoạn, ấy là cái phúc. Có biết bao kẻ sinh ra là đã mang bệnh tật vào người rồi chết yểu, lại có kẻ khỏe mạnh cường tráng nhưng bị người ta giết hại, cũng có kẻ từ trẻ đến già bệnh tật liên miên không dứt, sống không được mà chết cũng không xong, ấy mới là vô phúc. Ta sống trên đời cũng lâu rồi, vui buồn sướng khổ đều biết cả, lúc già yếu lại không phải chịu cảnh cô quạnh. Nay số ta đã tận, nhắm mắt xuôi tay thì có gì đáng buồn? Huống chi, Thạch Hà nữ phái chúng ta bao đời nay đều noi theo phong thái lẫm liệt quật cường của Đông Cung công chúa, nhất quyết không để miệng đời chê bai nữ nhi chúng ta nhu nhược bất tài, vậy mà chị em các người lại cứ giữ cái thói khóc lóc dai dẳng ấy, khiến ta thật quá thất vọng! Vậy nên hôm nay, ta đặt cho các người một điều luật mới, bất kể là trong phái có ai qua đời, các người chỉ được khóc đúng một lần. Sau đó, dù là lúc an táng hay lúc cúng bái, nếu có ai không cầm lòng nổi thì cứ về phòng đóng cửa mà khóc lóc một mình, đừng để các chị em khác trông thấy rồi yếu lòng theo. Các ngươi đã rõ chưa?”. Khúc chưởng môn căn dặn xong, ai nấy đều lau nước mắt rồi nín bặt. Từ đó về sau, mọi người trong phái đều tuân theo giáo huấn ấy. Như Ý, con cũng cố ghi nhớ lấy!

Xuân Lan nghe vậy, bèn gắng gượng lau nước mắt, cắn môi nén khóc, song vì sợ mình không cầm lòng nổi nên cũng không dám mở miệng đáp lời.

Đinh Tứ Nương qua đời đột ngột là chuyện không ai lường trước, sợ mọi người nán lại càng lâu sẽ càng bịn rịn suy sụp, Đỗ Xuân Hương bèn mau chóng hối thúc mọi người đi vào trong làng. Cả đoàn lục tục khởi hành, cũng là lúc mặt trời đã xuống thấp.

Tam Điền là một ngôi làng nhỏ nằm gần vùng giáp ranh giữa châu Ái và châu Hoan (1). Ở đây dân cư thưa thớt, cứ cách vài dặm mới có một căn nhà, tuy vậy ruộng đất lại trù phú, người người đều làm nông kiếm kế sinh nhai. Điền chủ làng này là song thân của Ất Nhị Nương, tính tình nhân hậu rộng lượng. Dân làng tuy phải làm thuê cho nhà điền chủ nhưng không khi nào thiếu ăn thiếu mặc, tiền công cho nông dân so ra cũng chỉ như những nơi khác, nhưng các loại sưu thuế của triều đình đều do nhà điền chủ nộp thay cả làng, vì vậy mà cuộc sống của dân làng Tam Điền khá sung túc.

Cách đình làng chừng một dặm có một ngôi nhà lớn, ước chừng phải rộng gấp năm sáu lần những ngôi nhà khác, chính là nơi ở của gia đình điền chủ họ Tôn, thân nhân Ất nữ hiệp. Đoàn người theo chân Ất Nhị Nương vào nhà, vợ chồng điền chủ đích thân ra tận cổng chào đón thân tình, tiếp đãi nồng hậu, lại sai người bố trí sẵn chỗ nghỉ ngơi cho các nữ hiệp. Xuân Lan vẫn chưa biết nhà họ Tôn là người thân của Ất Nhị Nương, lại ngạc nhiên trước giao tình giữa hai bên, bèn hỏi nhỏ Tòng Phương:

  • Anh Tòng Phương! Nhà họ Tôn này có quan hệ gì với Thạch Hà phái vậy? Sao chúng ta không theo thông lệ, đến đình làng xin trọ qua đêm để khỏi phiền đến họ?

Tòng Phương khẽ đáp:

  • Vợ chồng họ Tôn ấy là cha mẹ ruột của Ất Nhị Nương. Trước khi đến Linh Cung, mọi người đã từng nghỉ tại đây một đêm. Lẽ ra ban nãy ta và Bình chia tay mọi người tại miếu Định Quốc Công để về Mộc Châu thì sẽ tiện hơn, nhưng vì ở đây vẫn còn một người đang chờ, nên ta mới đưa Bình đi ngược xuống phía nam cùng mọi người một đoạn.

Xuân Lan ngạc nhiên hỏi tiếp:

  • Là ai đang chờ chúng ta vậy?

Tòng Phương nháy mắt nói:

  • Lát nữa em sẽ rõ, không chỉ em mà cả Bình cũng nên gặp người ấy.

Xuân Lan toan mở miệng hỏi thêm thì gia chủ đã mở lời mời mọi người cùng vào sảnh tiếp khách, lại tất tả sai gia nhân đem lên mấy đĩa trầu và một ấm trà nóng. An bài xong xuôi, vợ chồng điền chủ cùng Ất Nhị Nương đứng lại ngoài cửa, Tôn ông điềm đạm nói:

  • Xin các vị cứ tự nhiên, có cần gì thì gọi một tiếng, gia nhân bên ngoài sẽ vào ngay. Vị khách kia tôi cũng đã bảo người đưa ông ấy đến, phiền các vị chờ thêm chút nữa!_Đoạn, ông quay sang Đỗ Xuân Hương, nói tiếp_ Biết mọi người không tiện ở lại lâu, vợ chồng tôi xin phép đưa Ất Nhị Nương sang gian khác, tranh thủ bàn chút việc nhà, đành thất lễ không thể ở lại đón tiếp!

Đỗ Xuân Hương cười đáp:

  • Chúng tôi đã phiền đến nhà ông bà mấy ngày trời, sao dám phiền luôn cả những chuyện đón tiếp như thế này! Ở đây chúng tôi có thể tự thu xếp được, xin cảm tạ gia chủ đã quan tâm.

Tôn bà nói:

  • Vậy lát nữa mời các vị ra gian sau dùng cơm tối cùng chúng tôi.

Nói xong, ba người cúi chào rồi rời khỏi gian nhà, Đỗ Xuân Hương cũng ra hiệu cho những  người khác cùng ngồi xuống uống trà chờ đợi.

Không lâu sau, có tiếng bước chân gõ lách cách trên nền gạch từ ngoài hành lang vọng vào, mọi người nghe thấy liền lóng ngóng đứng cả dậy, vừa kịp lúc cánh cửa cọt kẹt mở ra, một ông lão đầu tóc bạc trắng, thân hình to cao, lách người bước vào. Ông lướt mắt nhìn hết thảy mọi người, song bất ngờ dừng lại ở Xuân Lan, vẻ sững sờ lẫn mừng sỡ hốt nhiên lộ hẳn ra ngoài nét mặt.

Xuân Lan hồi đầu còn ngờ ngợ, càng về sau lại càng thấy thân quen, xúc động trong lòng không sao kiềm nén, liền vội vàng chạy đến chỗ ông già, bật kêu lên:

  • Nhật Lão, có phải ông không? Con là Như Ý đây!

Dưới ánh nến lập lòe, nàng trông thấy khuôn mặt Nhật Lão nay đã hằn rất nhiều nếp nhăn, cặp mắt nép dưới hàng chân mày dày dạng sóng gió tuy vẫn còn sáng quắc nhưng đã tích trữ đầy những lo toan cùng sầu muộn, còn mái đầu thì bạc trắng một màu, khiến ông rõ ràng chỉ mới vừa tầm lục tuần lại có thể trông hệt như một cụ già thất thập cổ lai hy. Xuân Lan mừng mừng tủi tủi, sống mũi bất giác cay xè. Nhật Lão thấy vậy bèn mỉm cười an ủi, cất giọng rưng rưng:

  • Như Ý đây rồi! Cuối cùng ông cũng gặp lại con! Con lớn nhanh quá, suýt nữa ông nhìn không ra!

Xuân Lan mừng đến dở khóc dở cười, một lúc sau mới nhớ ra Ngô Bình, bèn hối hả kéo Nhật Lão đến chỗ đứa nhỏ, chẳng kịp giải thích đã luôn miệng hối thúc thằng bé:

  • Bình, mau chào ông ngoại đi!

Nhật Lão nghe mấy lời đó, liền run rẩy nhìn sang Ngô Bình, nét mặt lại càng căng tràn xúc động, miệng mếu máo nói:

  • Là nó đây sao? Đúng rồi! Nhìn xem này, cặp mắt của nó rất giống mẹ, cái mũi lại trông hệt như cha. Đúng là cháu ngoại của ông rồi!

Xuân Lan gật đầu liên tục rồi thúc mạnh mấy lượt vào người Ngô Bình, nói giọng thiếu kiên nhẫn:

  • Em nhanh lên, chào ông ngoại đi!

Ngô Bình không hiểu đầu cua tai nheo gì, cứ mải lo tròn mắt nhìn ông lão, Xuân Lan gọi đến ba bốn lần nó mới giật mình bừng tỉnh, lúng túng khoanh tay cúi chào hai tiếng “ông ngoại”. Khi nó còn chưa kịp đứng thẳng lên, ông ngoại đã ôm chầm lấy nó, giọng ông nhòe nhoẹt bên tai:

  • Cháu của ông! Cháu ngoại tội nghiệp của ông! Cuối cùng ông cũng được nhìn thấy cháu!

Nhật Lão nói xong lại đẩy Ngô Bình ra, nhưng vẫn giữ hai tay trên vai nó, mắt chầm chậm ngắm nhìn từng nét trên khuôn mặt nó, miệng nhoẻn cười hạnh phúc.

Nhìn thấy cảnh đoàn viên, Đỗ Xuân Hương nhẹ lòng thở phào, đoạn ôn tồn lên tiếng:

  • Nhật Lão, chúng cháu tuy giữ được lời hứa, đưa cháu ngoại về cho ông, nhưng vẫn còn nợ ông một lời xin lỗi, rất mong ông bỏ qua cho chúng cháu! Trước đây chúng cháu hiểu lầm ông nên mới vô lễ nói ra những lời khó nghe.

Nhật Lão vội xua tay, mắt vẫn không rời Ngô Bình:

  • Tôi cảm ơn các nữ hiệp còn không hết, sao lại dám trách cứ? Nếu không phải do ông trời thương tình run rủi cho tôi gặp các vị, thì biết đến bao giờ tôi mới tìm được cháu ngoại!

Canh Thất Nương nói:

  • Trước đây cháu nặng lời nhất, không phải phép với ông. Nay ông rộng lòng bỏ qua, cháu thật cảm kích. Bây giờ hai ông cháu cùng ngồi xuống đi, chân của Bình bị thương còn chưa khỏi, đứng lâu sẽ đau lắm đấy!

Nghe vậy, Nhật Lão bèn đỡ Ngô Bình ngồi xuống, đoạn ôn tồn quay sang hỏi Đỗ Xuân Hương:

  • Làm thế nào các vị có thể đưa Bình rời khỏi Linh Cung vậy?_Nói rồi ông nhìn quanh quất, bất chợt thấy thiếu một người, giọng lập tức trở nên ngờ vực_ Mà sao…tôi không thấy Đinh Tứ Nương ở đây? Hay là bà ấy đã về Thạch Hà trước rồi?

Vừa nhắc đến Tứ Nương, không gian bỗng nhiên chùng xuống. Nhật Lão nhanh chóng đoán được chuyện chẳng lành, lòng thầm hoảng hốt đến run rẩy tay chân. Đỗ Xuân Hương cố nén thương đau, thuật lại diễn biến mọi chuyện đêm qua cho Nhật Lão tỏ tường. Nghe xong, Nhật Lão buồn bã lau nước mắt, nói:

  • Các nữ hiệp! Ông cháu chúng tôi và cả Mộc Hương sơn trang làm phiền các vị, không ngờ lại để liên lụy đến Đinh Tứ Nương. Mặc dù Tứ Nương mất mạng bởi tay ác phụ họ Trịnh, nhưng tôi không thể nào….

Đỗ Xuân Hương nhẹ nhàng ngắt lời:

  • Xin ông đừng tự trách mình! Chuyện sinh mạng nào ai có thể lường trước được! Có điều lần này chúng cháu đưa được Như Ý về Thạch Hà, thiết nghĩ Tứ Nương ra đi cũng được thanh thản.

Cả gian phòng lặng đi trong chốc lát, rồi Đỗ Xuân Hương lại nói với Nhật Lão:

  • Mười năm nay ông lưu lạc khắp nơi, ắt phải chịu khổ sở trăm bề. Bây giờ sóng yên gió lặng, ông có thể kể lại cho tất cả mọi người cùng nghe được không ạ? Trước đây vì gấp rút quá, chúng cháu lại hiểu lầm ông, trước sau chỉ muốn chứng thực chuyện xảy ra ở Mộc Hương trang, giờ bình tâm lại rồi, mới thấy vẫn còn quá nhiều uẩn khúc.

Nhật Lão gật đầu, trở giọng trầm ngâm, từ từ kể lại mọi chuyện. Mười hai năm trước, ông để con gái nuôi là Ý Phương ở lại Mộc Châu, một mình vượt rừng xuống châu Hoan sinh sống. Nhật Lão vốn là sơn tặc hoàn lương, có đến mấy chục năm gắn bó với sơn lâm dã thú, ở châu Hoan bèn ngày ngày vào rừng đốn củi, làm công việc của một tiều phu. Trong suốt thời gian đó, ông tuyệt nhiên không để lộ võ công, chỉ bình lặng sống ẩn dật qua ngày. Nhưng cảnh yên bình ấy chỉ kéo dài chưa đầy một năm thì đất châu Hoan không còn lưu lại được nữa, con trai cả của quan huyện lệnh vùng ấy là một tên ác bá háo sắc, trong một lần chơi bời trác táng đã kéo đến làng nơi Nhật Lão cư ngụ, bắt cóc con gái một nhà nông nghèo, lại còn cho tay sai đánh đập cả nhà người ta. Nhật Lão trông thấy liền nổi cơn thịnh nộ, cầm rìu xông vào đánh đuổi. Bọn ác bá vốn chỉ biết vài miếng võ công tầm thường, đều không phải là đối thủ của Nhật Lão, nhưng chúng lại nhìn ra được Phong Vân Đao Pháp của Sơn Tây võ phái, trước khi lũ lượt bỏ chạy còn lớn tiếng gào thét đòi rửa hận. Biết hình tích của mình sớm muộn cũng bị lộ, Nhật Lão đành trốn khỏi châu Hoan ngay trong đêm, song chợt nảy ra ý định quay lại Mộc Hương trang thăm con gái nuôi, ông bèn đến vùng lân cận sắm sửa đồ đạc và mấy con ngựa, giả làm người đi buôn, từ từ lên vùng Mộc Châu.

Nhật Lão vừa đi vừa dò la tin tức, sợ thân phận bị bại lộ nên không dám đi nhanh, sau vài tháng mới đến được Mộc Châu, ông men theo đường rừng năm nào để trở về Mộc Hương trang. Đi đến trưa thì thấm mệt, Nhật Lão dắt ngựa vào nghỉ tại một tán cây rộng. Trong lúc đang ngồi nhìn lại cảnh cũ, đột nhiên ông trông thấy gần đó có một gò đất lạ nhô lên, thoạt trông thì rất bình thường, lại nằm ở một góc khuất khó phát hiện, nhưng nó dường như lại đang bị đùn lên, như thể bên dưới có ai đang cố đào đất thoát ra. Nhật Lão thận trọng đến gần, cất giọng gọi thử vài tiếng vì còn nghi ngờ bên dưới mô đất là một con thú, nào ngờ đáp lại rõ ràng là tiếng người rên rỉ kêu cứu, ông mới hoảng hồn ngồi sụp xuống, gấp gáp bới tung đất cát. Sau cùng, người bên dưới cũng lộ ra, mặt mũi lấm lem bùn đất, thể chất vô cùng yếu ớt. Nhật Lão lôi y ra ngoài, toan lấy vải lau mặt mũi cho y thì lại bị y bấu chặt vào tay, quyết liệt gắng gượng khuyên can ông đừng quay về Mộc Hương trang, nói xong liền ngất lịm đi.

Nhật Lão vừa kinh ngạc vừa hoảng sợ, nghi ngờ hành tung của mình đã bị phát hiện, lại nghĩ ở Mộc Hương trang chắc chắn có biến, bèn nóng ruột lau mặt mũi cho người kia, định sẽ đưa y đến nhà một thầy lang trong vùng rồi âm thầm quay lại Mộc Hương trang. Thế nhưng, sau khi bùn đất trên mặt kẻ lạ được lau sạch, Nhật Lão mới hoảng hồn nhận ra y chính là ông Thịnh, thầy thuốc của Mộc Hương trang. Biết có chuyện chẳng lành, Nhật Lão dằn lòng đưa ông Thịnh đi ngược xuống phía nam, tìm thầy lang xem bệnh cho ông. Nhưng trớ trêu thay, hết lần này sang lần khác, thầy lang nào xem qua tình trạng của ông Thịnh cũng đều lắc đầu không nhận. Biết tính mạng ông Thịnh đang lúc nguy cấp, Nhật Lão mới đưa ông về vùng sông Bạch Đằng, cầu cứu dược sư họ Phạm.

Từ đạo Lâm Tây đến vùng ven sông Bạch Đằng thuộc Lục Châu đường sá xa xôi ngàn dặm, một nơi ở biên giới phía tây Đại Cồ Việt, bên kia lại nằm tít tận phía biển Đông, dọc đường đi Nhật Lão cứ phải tìm đến chỗ các thầy lang nổi tiếng, thuyết phục họ cố gắng kéo dài sinh mệnh ông Thịnh được ngày nào hay ngày đó. Ông Thịnh cuối cùng cũng qua được cơn hôn mê, nhưng chỉ thều thào được mấy tiếng ngắn gọn, lại không thể tự ngồi dậy được.

Chừng ba tháng sau, Nhật Lão và ông Thịnh mới đến được nhà cha con dược sư họ Phạm nổi tiếng khắp cõi Đại Cồ Việt. Vừa nhìn thấy ông Thịnh, dược sư Phạm Nhân Hào liền nhận ra ngay đồng môn cũ của mình, đồng thời tỏ ý thắc mắc không hiểu vì sao ông Thịnh lại trúng phải Tây Âu Độc Thủ. Nhật Lão chưa rõ đầu đuôi nên không sao giải thích thỏa đáng, trong lòng lại rất muốn quay về Mộc Châu điều tra uẩn khúc, chỉ hiềm đường sá xa xôi mà ông Thịnh lại cứ níu áo nói hai tiếng “đừng về” khiến ông đắn đo không dứt. Sau cùng, Nhật Lão đành lưu lại Phạm gia trang, chờ xem tình hình sức khỏe của ông Thịnh.

Hai tháng trôi qua, mọi nỗ lực của cha con Phạm Nhân Hào đã giúp ông Thịnh nói được nhiều hơn một chút. Nhờ đó, ông Thịnh mới có thể kể lại chuyện xảy ra ở Mộc Hương trang, nhưng vì sức lực còn quá yếu, mỗi ngày ông chỉ nói được trên dưới chục câu. Nhật Lão dù rất sốt ruột, cũng đành phải chờ đợi mà không dám hối thúc. Ròng rã nhiều ngày, Nhật Lão đứng ngồi không yên, khi nghe cả con gái và con rể đều bị hại chết, ông đau đớn đến đổ bệnh, nằm liệt giường suốt mười ngày đêm.

Sau đó một tháng, ông Thịnh cũng qua đời vì trúng độc quá lâu, không thể cứu vãn được nữa. Nhật Lão để ông lại cho nhà họ Phạm an táng, còn mình thì ôm theo đau thương cùng mất mát, quyết tâm đi thẳng đến Linh Cung đòi lại Ngô Bình. Thế nhưng dọc đường, xui xẻo thế nào lại chạm trán bọn Trần Gia Bang. Nhật Lão thân cô thế cô, biết mình không cách nào đánh lại, bèn tính đường bỏ chạy. Trần Linh cho người đuổi theo, dồn ông ra tận biển. Ông đành phải cướp lấy một chiếc thuyền chài, giong buồm lênh đênh trên biển suốt mấy tháng trời. Trong cái rủi có cái may, Trần Gia Bang lại không thạo đường biển, biết bọn chúng thể nào cũng cho người mai phục sẵn dọc bờ, chờ đến khi ông bỏ thuyền lên cạn sẽ ập đến bắt, ông bèn cho thuyền chạy thẳng xuống phía nam, vào hải phận Chiêm Thành rồi mới dám bỏ thuyền bơi vào bờ, nhờ vậy mà thoát khỏi đám thuộc hạ của Trần Linh. Song, ông lại e Trần Linh sắp xếp cho người canh dọc biên giới, nên đành nhẫn nại sinh sống luôn trên đất người Chiêm vài năm, định bụng chờ đến khi mọi chuyện lắng xuống mới quay về Đại Cồ Việt. Ở Chiêm Thành, Nhật Lão phải giả câm giả điếc để che giấu xuất thân, ngày ngày tìm đến phố chợ học lóm tiếng Chiêm.

Ba năm sau, cũng tại khu chợ gần biên giới ấy, ông vô tình trông thấy một thiếu phụ áo hồng rất quen mặt đi cùng một vài thuộc hạ. Sau một hồi lục tung trí nhớ, ông mới nhận ra ả chính là Tị cung Văn Thị Sa, vốn là một người Chiêm Thành trước khi vào Linh Cung Thập Nhị Giáp. Lo sợ tung tích mình lại bị lộ, Nhật Lão vội vàng thu dọn hành lý, trốn sang đất Chân Lạp (2). Ông lại lưu lạc ở đó thêm bốn năm nữa. Một thời gian sau, Nhật Lão quyết định tìm cách quay về Đại Cồ Việt. Ông vào làm gia nhân cho một đoàn thương gia người Chân Lạp, theo họ đi khắp các vùng từ Chân Lạp sang đất Ai Lao rồi lại đến Nam Chiếu (3). Ông để râu tóc hệt như người Chân Lạp, ở lâu năm tại Chân Lạp, thông thạo tiếng nói của họ nên không phải giả câm giả điếc nữa. Cứ thế, Nhật Lão nhẫn nhịn chờ đến ngày đoàn thương buôn ấy sang Đại Cồ Việt.

Cuối cùng, sau hai năm đợi chờ, đoàn thương buôn Chân Lạp cũng đến thành Đại La, làm ăn với một nhà buôn Việt họ Tạ. Nhật Lão theo chân đoàn buôn đến nhà họ Tạ, lại chẳng ngờ họ Tạ ấy là người nhà của Quý Thập Nương Thạch Hà Phái, càng không thể ngờ hơn là ngay khi ấy, Lê Tòng Phương và cả Quý Thập Nương cũng có mặt tại ở đó. Tòng Phương hiển nhiên không nhận ra Nhật Lão vì lúc này trông ông hệt như người Chân Lạp, lại còn già đi rất nhiều. Vậy nên, khi Nhật Lão lên tiếng gọi Tòng Phương, cả thương nhân người Chân Lạp lẫn thương nhân họ Tạ rồi đến Tòng Phương và Quý Thập Nương, ai nấy đều kinh ngạc bội phần. Sau cùng, Tòng Phương cũng nhận ra Nhật Lão, nghe Nhật Lão kể lại đầu đuôi vụ thảm sát năm xưa. Thoạt đầu, không ai tin lời ông, ông liền bị áp giải về Thạch Hà Phái. Sau mấy lượt giải thích cùng thuyết phục rồi cả thề thốt đến bán mạng, mọi người mới bán tín bán nghi. Canh Thất Nương bèn dựng lên một kế hoạch đột nhập Linh Cung, đồng thời giam giữ Nhật Lão tại nhà của điền chủ họ Tôn làng Tam Điền, đợi sau khi chân tướng sự việc rõ ràng sẽ quay lại tùy cơ mà giải quyết. Nhật Lão đã chờ đợi ròng rã mười năm, há lại không thể chờ thêm vài ngày, liền thuận theo kế hoạch của Thạch Hà phái. Chính vì sợ để lộ tung tích Nhật Lão mà đêm qua Đỗ Xuân Hương đã bịa ra câu chuyện về một thuộc hạ may mắn thoát chết. Kỳ thực, người duy nhất sống sót rời khỏi Mộc Hương trang trong vụ thảm sát chính là Trịnh Hưng Thịnh mà cả Đào Khanh và các phu nhân của y đều ngỡ là đã chết.

Nghe Nhật Lão thuật lại quãng đời mười năm lưu lạc ở ngoại quốc, không ai kiềm nổi thương cảm cùng khâm phục, hết thảy đều im lặng bàng hoàng, rồi lại cùng thở dài não ruột, phải mất một lúc lâu sau, Bính Tam Nương mới đột nhiên lên tiếng:

  • Nhật Lão! Có chuyện này tôi vẫn chưa hiểu. Với Tây Âu Độc Thủ của Phạm gia, chỉ cần chạm vào da thịt người ta một cái thôi, sẽ lập tức khiến họ phải mất mạng, tại sao Trịnh Hưng Thịnh vẫn có thể sống sót đến tận sáng hôm sau, thần trí lại tỉnh táo đến độ nghe được tất cả mọi chuyện?

Đầu mày Nhật Lão hơi chau lại, ông đáp bằng giọng trầm ngâm hưởng ứng:

  • Chuyện này tôi cũng từng hỏi Phạm dược sư, ông ấy chỉ nói ngắn gọn mấy câu, đại ý bảo Trịnh Thị Đoan đã nương tay. Thế nhưng hôm đó, nếu chỉ cần Trịnh Hưng Thịnh còn lộ chút dấu hiệu sống sót, Đào Khanh dễ gì lại chịu để Trịnh Thị mang ông ấy ra ngoài chôn cất? Tôi có hỏi thêm vài câu nữa, nhưng Phạm dược sư chỉ đáp đó là bí mật của Tây Âu Độc Thủ, môn quy buộc những người đã từng luyện qua loại võ công ấy phải vĩnh viễn không được tiết lộ, thành thử tôi không hỏi nữa, sợ làm khó ông ấy.

Nghe đến đây, nét mặt các nữ hiệp đột ngột đanh lại lo âu. Canh Thất Nương nghi hoặc nói:

  • Vậy là không xong rồi! Nếu Trịnh Thị đã cố tình tha cho ông Thịnh, hẳn là mọi chuyện chúng ta nói hôm qua, thị đều biết là do chúng ta bịa đặt. Không chừng bây giờ người của Linh Cung cũng biết cả rồi.

Tân Bát Nương liền phủ nhận:

  • Cũng không hẳn, năm đó Trịnh Thị lén lút tha chết cho cha, nhưng lại đem chôn sống ông ta. Các vị xem có phi lý hay không? Hoặc giả như nếu ả cố tình chôn tạm ông ấy ở đó rồi chờ khi thuận lợi sẽ quay lại chữa trị thì cũng không ngu ngốc đến mức lại vào rừng chôn. Nhỡ đâu dã thú quanh đấy ăn thịt ông ấy thì sao?

Mọi người lại im lặng suy nghĩ một lúc, hồi sau Xuân Lan bèn nói:

  • Tân cô cô! Khi còn ở Linh Cung, con có nghe Đào phu nhân nói, độc chất trong Tây Âu Độc Thủ của Đoan phu nhân mạnh đến nỗi cả dã thú cũng phải sợ mà lánh xa. Có lẽ vì vậy mà Đoan phu nhân mới dám đem chôn tạm ông ấy trong rừng.

Nghe lời ấy, nét mặt các nữ hiệp càng lộ vẻ căng thẳng. Canh Thất Nương lại nói:

  • Nếu đúng là ả họ Trịnh chôn tạm xác ông Thịnh trong rừng, chắc chắn ả sẽ sớm quay lại. Sức ông Thịnh khi ấy đã rất yếu, để lâu sẽ nguy đến tính mạng. Hơn nữa, độc chất của Tây Âu Độc Thủ trong khắp cõi Đại Cồ Việt chỉ có Phạm dược sư là có thể chữa trị, ả quay lại mà không thấy cha mình đâu, không lẽ lại không biết tìm về Phạm gia trang? Ta nghi ngờ hành tung của Nhật Lão thật ra đã bị ả họ Trịnh ấy phát giác từ mười năm trước. Chỉ là ta vẫn còn không hiểu tại sao ả lại để yên cho Nhật Lão. Ban đầu thì có thể nói là do ả sợ Đào Khanh phát giác chuyện ả nương tay với ông Thịnh, nhưng sau khi ông ấy qua đời, Nhật Lão cũng đã rời Phạm gia trang, tại sao người của Linh Cung vẫn không hề hay biết?

Nhật Lão bèn nói:

  • Có khi nào họ đã biết rồi hay không? Khi còn ở Chiêm Thành, chính mắt tôi trông thấy Tị cung Văn Thị Sa. Có lẽ người của Linh Cung đã sang tận Chiêm Thành để tìm bắt tôi.

Đỗ Xuân Hương lắc đầu mấy cái, nói:

  • Tôi lại nghĩ đó chỉ là trùng hợp. Nếu đúng là đi tìm ông, họ phải sang Chiêm Thành từ sớm, cớ gì lại chờ đến tận ba năm sau mới đi tìm. Văn Thị Sa là người Chiêm, thỉnh thoảng ả tìm về cố hương cũng không có gì lạ.

Đỗ Xuân Hương vừa dứt lời, Canh Thất nương liền quay sang nói với Tòng Phương:

  • Lê trang chủ! Ta thấy có lẽ trang chủ không nên đưa Nhật Lão và Ngô Bình về Mộc Châu ngay lúc này. Mười năm trước, nếu quả thật Trịnh Thị Đoan đã phát hiện ra tung tích Nhật Lão, hôm qua chúng ta lại bịa chuyện về một thuộc hạ còn sống trước mặt ả, thể nào ả cũng sẽ đoán ra là chúng ta đang đi cùng Nhật Lão. Chẳng ai biết âm mưu thâm độc của ả, chúng ta cũng không dám chắc là liệu Đào Khanh đã biết chuyện hay chưa. Kẻ địch ở trong tối, chúng ta ở ngoài sáng, nếu không đề phòng ta sợ sẽ lại bị bọn họ ám hại. Chỉ cần Đào Khanh biết được tung tích Nhật Lão, chắc chắn hắn sẽ báo tin cho Sơn Tây võ phái và người Khau Phạ, chưa kể các môn phái bang hội khác từ hồi biết tin Nhật Lão có liên can đến vụ thảm sát tại Hoàng Liên Sơn đều cho rằng ông có liên quan mật thiết đến Man Thiện Bí Kíp, biết đâu cũng sẽ kéo đến gây hấn. Lúc đó tình thế thay đổi, một mình Thạch Hà nữ phái và Mộc Hương sơn trang sẽ khó mà chống lại bọn họ. Bình tuổi vẫn còn nhỏ, võ công lại hỗn tạp không theo bài bản, để các người đưa nó vào chỗ hung hiểm như vậy có khác gì so với để nó ở lại Linh Cung đâu.

Nhật Lão nghe vậy liền gật gù tán thành:

  • Tôi thấy Đỗ chưởng môn nói rất đúng. Tòng Phương à, nếu cậu tin tôi, hãy để tôi sắp xếp chuyện lần này. Ngày mai cậu lên đường về Mộc Châu, chờ xem bọn Linh Cung có giở trò gì không, nếu thấy động tĩnh, lập tức sai người xuống Thạch. Còn tôi sẽ dắt Bình đến châu Cổ Pháp (4) tìm cố nhân. Thời còn ở Sơn Tây võ phái, tôi rất thân thiết với một sư đệ họ Lý, y võ công cao, nhân phẩm tốt, là đồ đệ giỏi của Phùng Họa Nhị Gia. Về sau chẳng hiểu vì sao y lại xuất gia tu hành, không màng thế sự, hiện đang làm trụ trì ở chùa Ứng Tâm (5). Tôi chợt nghĩ, hay là để Bình bái ông ấy làm sư phụ rồi cũng giả làm chú tiểu tu hành ở đó vài năm, đợi sau này trưởng thành, võ công đủ để phòng thân thì trở về Mộc Châu sau. Tòng Phương, cậu thấy thế nào?

Tòng Phương còn đang lưỡng lự chưa quyết thì Kỷ Lục Nương đã vội hỏi:

  • Nhật Lão, có phải ông đang nhắc đến thiền sư Lý Khánh Văn chăng?

Nhật Lão mừng rỡ đáp:

  • Đúng vậy! Kỷ nữ hiệp cũng biết ông ấy sao?

Kỷ Lục Nương cười nói:

  • Ông ấy gọi thiền sư Vạn Hạnh là sư huynh. Trong một lần đến chùa Quỳnh Lâm (6), cũng ở châu Cổ Pháp, cháu từng nghe thiền sư Vạn Hạnh nhắc đến thiền sư Lý Khánh Văn_rồi nàng quay sang Tòng Phương, nói tiếp_Lê trang chủ, tôi nghe thiền sư Vạn Hạnh nói thiền sư Khánh Văn là bậc chân tu đức độ, chỉ chuyên tâm tu hành, không can dự triều chính như các vị Vạn Hạnh, Khuông Việt. Vậy nên tôi nghĩ, ở chỗ ông ấy rất an toàn, không bị người ta chú ý đến, lại là một nơi rất tốt để rèn giũa nhân cách cho Bình.

Nhật Lão nghe Lục Nương nhắc đến sư Vạn Hạnh thì ngạc nhiên hỏi:

  • Nhiều năm trước, tôi nghe nói thiền sư Vạn Hạnh đang tu hành ở chùa Nhất Trụ tại Hoa Lư, sao bây giờ lại đến chùa Quỳnh Lâm rồi?

Lục Nương cười nhạt, đáp:

  • Thiền sư vừa về chùa Quỳnh Lâm được ba năm nay thôi. Cháu cũng có hỏi qua thì ngài đáp ngắn gọn là vua Lê đã lớn tuổi, việc triều chính có nhiều chỗ quyết định chưa thỏa đáng, bọn quyền thần trong triều lại ưa thói nịnh hót, dựa thế làm càn. Thiền sư vì muốn tịnh tâm nên đã xin vua cho mình về chùa Quỳnh Lâm tu hành, khi nào nhà vua cần, ông ấy sẽ lại đến Hoa Lư.

Kỷ Lục Nương trong lòng vẫn còn nuôi hận với hoàng tộc họ Lê, tuy không nói ra nhưng mỗi lần nhắc đến đều cảm thấy chua xót, không thể kiềm nổi cười nhạt. Nhật Lão không trông thấy thái độ của Lục Nương, chỉ gật gù nói:

  • Ra là vậy_Rồi ông quay sang Tòng Phương, hỏi_Tòng Phương, cậu đã quyết chưa?

Tòng Phương nhìn Ngô Bình, nó cũng đang băn khoăn giương mắt nhìn y. Tòng Phương xoa đầu nó, mỉm cười cảm thông, nói:

  • Bình, ngày mai cậu theo Nhật Lão đến Cổ Pháp, đợi khi nào sóng gió lắng xuống, tôi sẽ đến thăm cậu. Tôi còn phải dạy cậu Mộc Hương Quyền, Mộc Hương Kiếm, rồi cả Liên Thụ Bộ của cha cậu nữa. Cậu cứ an tâm đến chùa Ứng Tâm, nhớ phải nghe lời ông ngoại đó.

Ngô Bình ấp úng:

  • Vậy, khi nào tôi mới được…về Mộc Hương sơn trang?

Xuân Lan ngồi gần đó liền cốc nhẹ lên đầu nó một cái, nói:

  • Cậu ngốc quá, chỉ khi nào võ công của cậu thật giỏi, có thể tự bảo vệ mình, lúc đó anh Tòng Phương mới để cậu về!

Tòng Phương lại mỉm cười trấn an Ngô Bình, rồi y quay sang nói với Nhật Lão:

  • Vậy thì theo ý Nhật Lão, ngày mai cháu sẽ gấp rút về Mộc Châu, xin giao Bình lại cho ông! Nhưng sau đó ông định sẽ đi đâu?

Nhật Lão cười nhẹ, đáp:

  • Tôi dắt Bình đến chùa Ứng Tâm rồi sang vùng lân cận làm tiều phu, tiếp tục sống những tháng ngày bình lặng.

Nhâm Cửu Nương nghe đến đây bèn hỏi:

  • Nhật Lão, oan tình tại Hoàng Liên Sơn ông định sẽ gánh cả đời sao?

Nhật Lão đột nhiên cười phá lên sảng khoái, đáp:

  • Cảm ơn lòng tốt của Nhâm nữ hiệp, tôi năm nay đã hơn sáu mươi, sống còn được bao nhiêu năm nữa đâu. Oan ức này có rửa sạch được hay không, với tôi không quan trọng bằng an nguy của Bình. Huống chi, nếu bây giờ mọi chuyện sáng tỏ, tuy Trần Gia Bang khó thoát khỏi tội khi quân, nhưng tộc Khau Phạ và Mộc Hương trang cũng phải chịu liên lụy. Mộc Hương trang là bên nội của Bình, tộc Khau Phạ lại là bên ngoại. Tôi tuy rằng gọi nó là cháu ngoại, nhưng nào có phải ruột thịt gì. Cả ông bà ngoại ruột của nó hiện vẫn còn đang ở Hoàng Liên Sơn. Tôi từng chịu ơn cứu mạng của bà ngoại Bình, lại chịu ơn của cha mẹ nó, thôi thì chuyện năm xưa cứ bỏ qua để cả tộc Khau Phạ, Mộc Hương trang và Bình đều được yên ổn. Trần Gia Bang gieo gió, ắt sẽ có ngày gặt bão.

Ai nấy nghe lời Nhật Lão đều lấy làm cảm động. Ngô Bình tuy không hiểu rốt cuộc ông đã phải chịu oan ức gì, nhưng đầu óc trẻ con thuần hậu lại khiến nó nhận ra hết thảy sự chịu đựng ấy đều là vì nó, dù ông chỉ là ông ngoại nuôi của nó thôi; nó ngước nhìn khuôn mặt già nua cùng râu tóc bạc trắng của Nhật Lão, lệ chưa rơi mà mắt đã ướt nhòe.

Nhật Lão lúc ấy cũng vừa cúi xuống, thấy Ngô Bình đang rưng rưng, liền ân cần đưa tay lau mắt cho nó, nhẹ nhàng ôm vai nó, song lại im lặng không nói gì. Ngô Bình thấy vậy, bèn nép đầu vào người ông, khẽ gọi hai tiếng “ông ngoại”. Tức thì, trên môi Nhật Lão nhoẻn lên một nụ cười hiền hậu, từ hai khóe mắt nhăn nheo rơi xuống mấy giọt nước mắt mãn nguyện, nước đọng lại trên tóc Ngô Bình, rồi thấm luôn vào đấy.

Chú thích:

(1)  Châu Hoan: Vùng đất nay là hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh

(2)  Chân Lạp: là nhà nước đầu tiên của người Khmer nằm trên phần phía nam của bán đảo Đông Dương gồm cả Campuchia và một số tỉnh phía Nam của Việt Nam hiện đại.

(3)  Nam Chiếu: vương quốc của người Bạch (Bai) và người Di đã phát triển rực rỡ ở Đông Nam Á trong các thế kỷ 8 và thế kỷ 9. Nó nằm trong khu vực tỉnh Vân Nam ngày nay của Trung Quốc.

(4)  Châu Cổ Pháp: Nay là tỉnh Bắc Ninh.

(5)  Chùa Ứng Tâm: còn có tên là Chùa Dận hay chùa Cổ Pháp (tên chữ là Cổ Pháp tự (古法寺), Ứng Tâm tự (応心寺)) là một ngôi chùa tọa lạc tại phố chùa Dận, xã Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Chùa có từ thế kỷ thứ 8, từng là nơi tu hành của các thiền sư có tiếng trong lịch sử là Định Không, Vạn Hạnh, Lý Khánh Văn

(6)  Chùa Quỳnh Lâm: còn có tên là Chùa Kim Đài (còn gọi là chùa Đài, chùa Lục Tổ) là một ngôi chùa tại xóm Xuân Đài, làng Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

One thought on “Chương 14: Cố nhân (phần 1)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s