Chương 16: Phật Môn kiếm phổ (phần 2)

Trong một cái am nhỏ, bốn người ngồi thinh lặng, sắc mặt mười phần lo âu.

Công Uẩn suốt đêm không ngủ, đầu óc rối tung rồi mù. Y ngồi thẫn thờ, mắt vô thức cắm vào mạng nhện chằng chịt giăng ở chân ghế bên kia. Ngồi cạnh y, Lý Khánh Văn rầu rĩ cúi gằm mặt xuống, tay lúng túng lần chuỗi hạt gỗ một cách thiếu kiên nhẫn. Ở phía đối diện, Nhật Lão nhắm nghiền đôi mắt, người tựa vào lưng ghế, mệt nhoài thiếp đi sau một đêm chạy từ Ứng Tâm sang Quỳnh Lâm rồi lại từ Quỳnh Lâm đến am Thanh Tịnh.

Ngô Bình ngồi yên quan sát từng người, tự hỏi vì sao mình không thấy buồn ngủ. Chốc chốc, nó lại ngó sang gian phòng bên cạnh, cảm giác sốt ruột lo lắng ban đầu đã chuyển dần thành bất chấp sau hơn mấy canh giờ chờ đợi.

Đêm qua tại điện Tam Bảo, Hắc Diện phu nhân đã bị mất rất nhiều máu. Mọi người ai nấy đều cuống quýt giúp bà cầm máu rồi mau chóng đưa bà rời khỏi chùa Quỳnh Lâm. Ngô Bình thấy Nhật Lão vẫn còn chưa khỏe, bèn xin Vạn Hạnh cho mình đi theo. Vậy nên, bốn người Khánh Văn, Công Uẩn, Nhật Lão, Ngô Bình cùng đưa Hắc Diện phu nhân đến am Thanh Tịnh, nhờ người em họ của sư Vạn Hạnh là ni cô Diệu Đức chữa trị thương thế. Sư Vạn Hạnh không đi cùng mà ở lại lau dọn điện Tam Bảo, trông chừng các thiền sư đã trúng phải mê dược của Hắc Diện phu nhân.

Từ lúc vào am Thanh Tịnh, ni cô Diệu Đức và Hắc Diện phu nhân cứ ở mãi trong phòng. Khánh Văn, Nhật Lão và Công Uẩn vì ngại mà không vào, thành thử cũng chẳng biết rốt cuộc Hắc Diện phu nhân đã tỉnh dậy hay chưa. Đến quá giờ Tị, sư vạn Hạnh mới đến am Thanh Tịnh. Vừa bước vào am, không thấy ni cô Diệu Đức và Hắc Diện phu nhân ở tiền sảnh, mắt lại chạm phải mấy ánh nhìn khắc khoải từ bốn người kia, Vạn Hạnh bèn thở dài, mặt hiện rõ lo lắng. Ông ngồi xuống một cái ghế trống, nói:

  • May mà Triệu phu nhân không thổi quá nhiều mê hương vào phòng các sư sãi, họ có người đã thức dậy từ sớm. Giả như tất cả bọn họ đều ngủ say đến tận giữa trưa thì bần tăng cũng không biết phải giải thích thế nào cho thỏa.

Nói rồi, Vạn Hạnh lại im lặng. Công Uẩn băn khoăn nhìn sư phụ, chừng nửa như muốn hỏi, nửa lại né tránh. Vạn Hạnh bất chợt quay sang, phát hiện thái độ ấy, bèn hạ giọng điềm tĩnh:

  • Công Uẩn, con có điều gì còn chưa rõ thì cứ hỏi. Lẽ ra đêm qua ta đã định nói với con, nhưng ngay sau đó Triệu phu nhân xuất hiện, ta không sao nói tiếp được nữa.

Vạn Hạnh dứt lời, Công Uẩn lại cúi nhìn mạng nhện nơi chân ghế, nét do dự hằn lên cặp chân mày đang nhíu chặt. Thấy Công Uẩn vẫn chưa lấy lại được bình tĩnh, Vạn Hạnh bèn quay sang bắt chuyện với Nhật Lão:

  • Cao thí chủ, có chuyện này bần tăng còn chưa hiểu. Nếu Cao thí chủ không phiền bần tăng nhiều chuyện, có thể gỡ rối giúp được chăng?.

Nhật Lão ôn tồn đáp:

  • Xin thiền sư cứ hỏi!

Vạn Hạnh chậm rãi giãi bày:

  • Bần tăng tuy không biết võ công, nhưng ở Hoa Lư nhiều năm lại có duyên giao thiệp với một đại cao thủ sở học rất rộng. Thỉnh thoảng bần tăng được nghe ông ấy luận bàn võ học nên biết chút ít về sở trường của các môn phái. Được biết, Thạch Ngọc Trảo là môn trảo thủ nổi tiếng của Tản Viên sơn phái, Kim Yên Trận là trận pháp của Thạch Hà nữ phái, còn Linh Cung Thập Nhị Trận là trận pháp của Linh Cung châu Ái. Linh Cung châu Ái tập hợp cao thủ các phái thì không nói làm gì, nhưng Tản Viên và Thạch Hà lại rất ít khi qua lại với nhau, vì sao Bình lại có thể nhận dạng được cả Thạch Ngọc Trảo, Linh Cung Thập Nhị Trận, lại còn biết dùng Kim Yên Trận để phá Linh Cung Thập Nhị trận? Bần tăng luôn cho rằng thí chủ với Khánh Văn là sư huynh đệ ở Đường Lâm, lẽ nào gốc tích của Bình lại là ở châu Ái?

Nhật Lão vẻ mặt khó xử, ấp úng nói:

  • Chuyện này…tôi…

Vạn Hạnh nói:

  • Nếu Cao thí chủ thấy không tiện thì thôi vậy. Chỉ là tôi muốn biết rõ hơn về thân thế của Bình mà thôi!

Nhật Lão thầm suy tính, không biết có nên nói ra tất cả cho sư Vạn Hạnh nghe hay không. Chỉ hiềm chuyện cũ có liên quan đến Sơn Tây võ phái, nếu chẳng may lộ ra ngoài, Sơn Tây võ phái thể nào cũng sẽ tìm Linh Cung để trả mối hận vu oan giá họa mười năm trước tại vụ thảm sát Mộc Hương trang, làm thế chẳng khác nào gián tiếp khiến cho Thạch Hà nữ phái bội ước với Linh Cung, Xuân Lan vì thế cũng sẽ cảm thấy vô cùng khó xử. Sau khi đắn đo cân nhắc một lúc, xét thấy sư Vạn Hạnh đã là sư phụ của Ngô Bình, tất nhiên không thể giấu ông thân thế thật của nó mãi được, Nhật Lão bèn thuật lại sơ lược, cố ý bỏ qua những chi tiết khó nói:

  • Không giấu gì thiền sư, tôi có một ái nữ gả cho Ngô gia sơn trang ở vùng Mộc Châu. Bình chính là con trai của trang chủ Mộc Hương trang và con gái tôi. Mười năm trước, cả Mộc Hương trang bị họa thảm sát, cha mẹ Bình đều qua đời. Bình nhờ lúc ấy không có ở sơn trang nên thoát đại nạn. Các thuộc hạ còn sống sót bèn bàn nhau cùng nuôi dưỡng nó, ngặt nỗi họ đều là đàn ông, những chuyện chăm sóc trẻ con không thể chu đáo như phụ nữ. May nhờ có một vị phu nhân của Đào cung chủ thương tình nhận Bình làm con nuôi rồi đem về Linh Cung. Đào cung chủ dù trước đó có hiềm khích với cha ruột của Bình, nhưng vì người chết cũng đã chết rồi, ông ấy bỏ qua chuyện cũ rồi xem Bình như con ruột. Bình ở Linh Cung được mười năm, đã từng chứng kiến mấy chiêu thức của các vị phu nhân thuộc nhiều môn phái khác nhau. Hơn nữa, nó lại rất thân thiết với tiểu thư Xuân Lan của Đào cung chủ, mẹ ruột tiểu thư Xuân Lan là đệ tử Thạch Hà nữ phái, tiểu thư ấy lại thông tuệ khác thường, được Đào cung chủ yêu thương truyền dạy cho rất nhiều môn võ công. Những hiểu biết của Bình về hai loại trận pháp đều do tiểu thư Xuân Lan tận tình dạy bảo. Tôi lưu vong sang ngoại quốc đã lâu, gần đây mới trở về, nhân lúc Thạch Hà phái cử người đến đón tiểu thư Xuân Lan về làm đệ tử, tôi cũng cùng họ đến Linh Cung nhận lại cháu ngoại. Tôi và Lê trang chủ hiện tại của Mộc Hương trang vì lo sợ kẻ thù năm xưa còn chưa lộ diện, bèn bàn nhau đưa Bình đến Cổ Pháp tìm thầy học chữ, đồng thời dạy võ công cho nó. Đợi vài năm sau, khi nó đã trưởng thành, sẽ lại đưa nó về Mộc Hương sơn trang, kế thừa sản nghiệp họ Ngô.

Ngô Bình nghe Nhật Lão kể có nhiều chi tiết không giống sự thật, lại nhớ ông đã từng căn dặn phải thận trọng chuyện thân thế, bèn cố ghi nhớ bằng hết những điều Nhật Lão vừa nói, đề phòng về sau Vạn Hạnh có hỏi lại thì không nói sai lệch đi.

Vạn Hạnh sau khi nghe xong có hơi chau mày, hạ giọng bồi hồi:

  • Hóa ra Bình là hậu duệ của Ngô gia! Vụ thảm sát cách đây mười năm tôi đã từng nghe qua, không ngờ lại có duyên thầy trò với con trai của Ngô trang chủ. Ngô trang chủ là người tài hoa đức độ, chỉ tiếc vận số quá ngắn ngủi…

Đến đây, Vạn Hạnh thở dài một hơi, cả Nhật Lão và Ngô Bình đều không tránh khỏi xúc động, hai ông cháu cùng buồn bã quay sang nhìn nhau, ánh mắt chứa chan bao điều chua xót. Đang khi ấy, từ gian phòng bên cạnh bỗng dưng vang lên thanh âm rên rỉ ai oán:

  • Con trai! Mẹ đến tìm con, mau về với mẹ đi con!

Nhận ra giọng ấy là của Hắc Diện phu nhân, năm người trong am đều vội vàng nhổm dậy, lòng bồn chồn nhưng chẳng dám thất thố chạy vào.

Hắc Diện phu nhân tiếp tục nói mê sảng:

  • Mẹ sai rồi, con đừng hận mẹ, mẹ là mẹ ruột của con mà!

Năm người lại càng nóng ruột hơn. Lý Khánh Văn bật đứng hẳn dậy, lóng ngóng ngó vào trong. Còn Công Uẩn tuy vẫn cố cắm mắt vào mạng nhện, đôi lông mày dài vẫn không giấu được vẻ xót ruột qua cái nhíu chặt đầy mâu thuẫn.

Vừa lúc ấy, ni cô Diệu Đức mở lời nói vọng ra ngoài:

  • Các vị thí chủ, xin hãy vào trong này!

Năm người được phép lập tức đi vào. Gian phòng bên cạnh có một cái phản nhỏ trải chiếu, Hắc Diện phu nhân đang nằm trên đấy, mắt nhắm nghiền nhưng người không yên, đầu cứ xoay qua xoay lại, hai cánh tay liên tục lay động bên dưới lớp chăn. Ni cô Diệu Đức đứng ngay bên cạnh, nói:

  • Phạm thí chủ kiệt sức, lại bị nhiễm lạnh, vết thương trên cánh tay cũng khá sâu, mất nhiều máu nên nhất thời mê sảng. Thấy Phạm thí chủ tuy thần trí chưa khôi phục nhưng luôn miệng gọi con trai, tôi đành mời các vị vào đây để Công Uẩn được gặp bà ấy!

Nói xong, Diệu Đức rời đi ngay, không gian lại trở nên im lặng, thỉnh thoảng vang lên tiếng rên ư ử của Hắc Diện phu nhân. Công Uẩn bần thần đứng nhìn, lòng ngổn ngang trăm mối, nửa muốn chạy đến nắm tấy tay bà gọi mẹ, nửa vẫn còn thống hận không hiểu vì sao năm xưa bà lại bỏ rơi mình.

Tối hôm đó, mọi người lại tất tả quay về chùa Quỳnh Lâm, Hắc Diện phu nhân đành giao phó cho ni cô Diệu Đức.

Gian phòng sư Vạn Hạnh tuy nhỏ nhưng vẫn chứa đủ năm người. Tông giọng trầm ổn của thiền sư đều đều vang lên, ai nấy thinh lặng lắng nghe câu chuyện xưa cũ.

Hai mươi lăm năm trước, Lý Khánh Văn vẫn còn là một đệ tử trẻ tuổi của Sơn Tây võ phái. Khánh Văn được Phùng Họa nhị gia thương yêu hết mực, bao nhiêu tâm huyết dồn vào nghiên cứu Phong Vân Họa Đao, nhị gia đều truyền hết cho Khánh Văn. Nếu sự đời êm thấm, chàng trai ấy không bỗng dưng tìm đến chốn cửa Phật, thì có lẽ một trong Tam hậu Phùng gia đời tiếp theo của Sơn Tây võ phái sẽ là Lý Khánh Văn. Duyên cớ khiến Khánh Văn bỏ môn phái theo con đường tu hành, ngoài chàng ra, khi ấy chỉ có hai người tường tận: một là sư Vạn Hạnh, người đã thuyết phục trụ trì chùa Quỳnh Lâm thu nạp Khánh Văn; người còn lại là Hắc Diện phu nhân. Mọi chuyện bắt nguồn từ một buổi chiều đầu năm, khi đợt rét tháng giêng lạnh cắt da cắt thịt tràn xuống phía nam, Khánh Văn trên đường về thăm quê cũ ở Cổ Pháp thì bất ngờ bắt gặp một người đàn ông chừng ba mươi tuổi đang nằm rên rỉ bên vệ đường. Khúc đường ấy vắng người qua lại, không biết y đã nằm đó bao lâu, trang phục bê bết máu, hai mắt nhắm nghiền, trên mặt có nhiều vết thâm tím. Khánh Văn trong lòng kinh động, vội cõng y đi tìm thầy lang. Nào ngờ dọc đường, kẻ ấy tỉnh dậy, lên tiếng bảo Khánh Văn dừng bước. Khánh Văn bèn đưa y vào một bụi rơm rồi lấy rơm đắp lên người y cho đỡ lạnh. Người đàn ông bắt đầu thều thào nói, tuy giọng run rẩy yếu ớt nhưng thần trí vẫn còn rất tỉnh táo. Người ấy tên là Triệu Nhã Đằng, tự nhận là hậu duệ dòng chính của Dạ Trạch Vương Triệu Quang Phục (2). Nhiều năm trước, Nhã Đằng có lấy một người vợ họ Phạm. Ban đầu vợ chồng chung sống rất tốt đẹp, về sau y phát hiện Phạm thị lấy mình chỉ vì hai báu vật gia truyền của Triệu gia: một thanh bảo kiếm và một bộ kiếm phổ. Khi mọi chuyện vỡ lỡ thì đã muộn, Phạm Thị đã trộm được cả hai món bảo vật ấy, tức tốc chạy về Đằng châu. Lúc này, Nhã Đằng mới biết thân thế thật của ả họ Phạm. Ả tên là Phạm Thị Thanh, cháu họ của sứ quân Phạm Bạch Hổ. Phạm Bạch Hổ năm xưa đã quy thuận Đinh Bộ Lĩnh, tuy vậy, trong họ tộc của ông vẫn còn một nhánh quyết không phục họ Đinh. Nhánh ấy đã ngấm ngầm ở lại Đằng châu, lén lút lập doanh trại, chiêu mộ binh lính, chờ ngày phục thù. Trong đám người ngoan cố đó có cả Phạm Thị Thanh. Phạm Thị khi lấy Nhã Đằng thì võ công còn kém cỏi, nhưng cũng lại rất thông minh sáng dạ. Nhã Đằng vì thương vợ mà vi phạm luật tục của họ tộc, đem môn kiếm phổ bí truyền ra dạy cho Phạm Thị, lại cho Phạm Thị xem và dùng thử cả thanh bảo kiếm của Triệu gia. Phạm Thị Thanh luyện võ được năm năm thì tiến bộ vượt bậc, kiếm pháp lại trội hơn cả Nhã Đằng. Hơn nữa, trong suốt năm năm ấy, ả đã cất công tìm kiếm chỗ cất giấu thanh bảo kiếm trong căn nhà rộng lớn của Nhã Đằng, cuối cùng, ả cũng đạt được ý nguyện. Khi thời cơ chín muồi, ả đợi đến một hôm Nhã Đằng có chuyện phải đi xa, bèn ôm hai món bảo vật rời khỏi nhà họ Triệu. Tuy nhiên, trong lòng vẫn còn vương vấn chút tình nghĩa phu thê, ả để lại một bức thư kể rõ sự tình. Nhã Đằng hôm đó không hiểu sao lòng dạ cứ bứt rứt không yên. Y lo sợ người vợ yêu dấu ở nhà xảy ra chuyện, bèn vội quay về ngay trong đêm. Nào ngờ về đến nhà, không thấy vợ đâu cả, y đọc bức thư đặt trên giường mà đầu óc quay cuồng, tâm can đau đớn. Hận mình đã bị phản bội, Nhã Đằng điên cuồng thúc ngựa đuổi theo. Đến gần sáng thì bắt kịp Phạm Thị, hai vợ chồng quyết đấu một trận dữ dội. Nhã Đằng võ công thua kém, bị đánh trọng thương. Tuy vậy, Phạm Thị vẫn còn chút lòng thương xót nên không giết Nhã Đằng mà lạnh lùng thúc ngựa bỏ đi, để mặc gã nằm lại một mình trong hừng đông lạnh giá đầy sương. Nhã Đằng cố lê lết được một quãng, con ngựa của gã cũng bị Phạm Thị đâm chết, gã kiệt sức bất tỉnh gục bên vệ đường, đến chiều tối thì được Khánh Văn phát hiện. Nhã Đằng biết mình không qua khỏi, đành trút hết sức tàn lực kiệt van xin Khánh Văn, lời lẽ vô cùng thống thiết:

  • Người anh em tốt! Tôi lấy nhầm vợ, làm hại đến cả dòng tộc. Họ Triệu bị tuyệt tôn tuyệt tự, hai bảo vật ấy về tay kẻ khác, tội đó tôi có thể một mình gánh lấy, xuống âm tì địa phủ chịu sự trừng phạt của tổ tông mấy đời. Thế nhưng, Đinh Bộ Lĩnh là anh hùng một thời, là bậc minh quân ngàn năm có một của Đại Cồ Việt. Khó khăn lắm ngài mới có thể thống nhất giang sơn, tạo phúc cho dân được an cư lạc nghiệp. Nay kiếm phổ và bảo kiếm rơi vào tay đám con cháu của Phạm Bạch Hổ, tôi lo sợ can qua sẽ lần nữa dấy lên, khiến trăm họ lầm than. Tội ấy, Nhã Đằng có chết vạn lần cũng không sao gánh nổi. Anh là người nhân hậu nghĩa hiệp, đã tốt thì tốt cho trót. Chỉ cần anh giúp tôi lấy lại được bộ kiếm phổ gia truyền từ tay Phạm Thị Thanh, tôi có chết cũng không quên ơn anh đâu!

Khánh Văn khi ấy còn ngập ngừng chưa dám nhận lời. Chàng nghĩ nếu chỉ dựa vào một thanh kiếm và một bộ kiếm phổ thì đám tàn binh của Phạm Bạch Hổ há dễ dàng gì chống lại được đội quân tinh nhuệ của Đinh Bộ Lĩnh. Nhã Đằng thấy Khánh Văn cứ chần chừ mãi, bèn tiết lộ một bí mật kinh thiên động địa: kiếm phổ trong tay Phạm Thị là do Triệu Quang Phục sáng tạo dựa trên những điều rút ra từ bộ trận pháp Man Thiện Bí Kíp huyền thoại. Chỉ kịp nói đến đấy, Nhã Đằng đã kiệt sức tắt thở. Khánh Văn vội vàng chôn cất thi thể họ Triệu, trong lòng băn khoăn trăn trở suốt mấy ngày liền. Nếu những gì Nhã Đằng nói là sự thật, thì tình hình đã khác đi rất nhiều.

Lâu nay, các thế lực cát cứ luôn có ý dòm ngó Man Thiện Bí Kíp, không ít kẻ cầm binh ngầm sai người truy tìm tung tích pho võ công lợi hại ấy. Nhiều thế kỷ trước, Triệu Quang Phục cũng không ngoại lệ, chiến thắng đáng ngờ của ông trước quân đội Lương quốc tại đầm Dạ Trạch khiến không ít kẻ nghi ngờ ông thật sự đã từng sở hữu Man Thiện Bí Kíp. Về sau, họ Triệu mất nước chỉ vì một chiếc mũ đâu mâu có gắn móng rồng (4), người ta lại được dịp đồn thổi rằng Triệu Quang Phục đã giấu Man Thiện Bí Kíp vào trong chiếc mũ ấy. Từ đó, Man Thiện Bí Kíp lại một lần nữa tuyệt tích, cũng chẳng ai hay biết gì về chuyện họ Triệu vẫn kịp sao chép Man Thiện Bí Kíp vào một bộ kiếm phổ.

Nếu kiếm phổ trong tay Phạm Thị Thanh có ẩn chứa tung tích Man Thiện Bí Kíp, thì không riêng gì Đinh Bộ Lĩnh, mà những môn phái bang hội, các tộc người, hào trưởng miền núi và tàn dư của các sứ quân sẽ lại một lần nữa chiếm đoạt tranh giành, dấy lên can qua, chia cắt Đại Cồ Việt thành nhiều mảnh. Sau cùng, dù cục diện thế nào, dân đen vẫn là đối tượng phải chịu khổ nhiều nhất. Khánh Văn tuy trong lòng lo ngại không ít, nhưng vẫn còn nghi ngờ lời nói của kẻ đang hấp hối, nên không vội kinh động đến Sơn Tây võ phái mà âm thầm một mình đến Đằng châu tìm rõ sự thật.

Mọi sự ở đời xảy ra cứ như đã được sắp đặt sẵn. Khi vừa đặt chân đến Đằng châu, Khánh Văn tình cờ nghe được chuyện tàn dư của sứ quân họ Phạm đã bị triều đình tận diệt cách đây mấy ngày. Chàng vội tức tốc tìm đến doanh trại của họ. Doanh trại họ Phạm nằm tít trong rừng, khi Khánh Văn đến nơi, quả nhiên mọi thứ đều đã bị đốt phá tan tành. Trước mắt chàng chỉ còn lại đống tro tàn bám đầy trên những lều trại bị thiêu cháy nham nhở. Khánh Văn thở dài một hơi não nùng, chàng còn đang suy tư không biết bộ kiếm phổ kia ở đâu thì chợt nghe phía sau có tiếng chân người thận trọng bước tới. Chưa kịp phản ứng, Khánh Văn đã bị một lưỡi kiếm lạnh ngắt đặt ngay lên cổ. Kẻ đứng phía sau chàng là Phạm Thị Thanh. Phạm Thị đến khu trại trước Khánh Văn độ một ngày, ả trông thấy thảm cảnh thì ruột đau như cắt, lòng dằn vặt tự trách bản thân đã quay về quá muộn. Phạm Thị không vội rời đi mà ở lại theo dõi, lòng thầm mong vẫn còn có kẻ thoát khỏi trận tru diệt, nào ngờ hôm sau lại thấy một thanh niên trẻ tuổi tìm đến. Trông bộ dạng y sầu sầu thảm thảm, Phạm Thị nhất thời nhầm lẫn đó là người cùng hội cùng thuyền. Ả vốn tính đa nghi, liền từ phía sau cầm kiếm đặt vào cổ y, nhằm bắt y phải tự khai nhận. Khánh Văn khi ấy đoán biết kẻ đứng sau lưng mình tám chín phần chính là Triệu phu nhân Phạm Thị Thanh, bèn bày ra một màn kịch để thông qua Phạm Thị, khám phá mọi điều uẩn khúc bên trong. Chàng tự mạo nhận mình là một thuộc cấp trong doanh trại, mấy ngày trước được phái đến vùng lân cận để liên lạc với một đầu lĩnh khác, chẳng ngờ đi được nửa đường, nghe hung tin đầu lĩnh kia đã bị triều đình đánh cho tan tác, bèn gấp rút quay lại chốn cũ thì trước mắt chỉ còn lại tro tàn cùng cát bụi. Không biết khi ấy do Phạm Thị quá thương tâm nên tinh thần không nhanh nhạy, hay là do Khánh Văn đóng quá khéo màn kịch của mình mà Phạm Thị đã liền tin tưởng mà đi theo chàng. Khánh Văn dần dà trở nên thân thiết với Phạm Thị, chàng dùng chính thủ đoạn của ả năm xưa để dụ dỗ ả tiết lộ Triệu gia kiếm phổ.

Cuối cùng, sau hai năm hao tâm tổn sức giăng bẫy, Khánh Văn cũng đã đạt được điều chàng muốn. Phạm Thị Thanh chẳng những tin tưởng Khánh Văn, mà còn yêu chàng say đắm. Sau bằng ấy năm thân cận, Khánh Văn đã nghe Phạm Thị thú nhận tất cả mọi chuyện với Nhã Đằng trước kia, từ trong tận đáy lòng cũng kịp nhen nhóm một thứ tình cảm lạ kì với thiếu phụ họ Phạm xinh đẹp. Chàng ôm mộng sẽ được cùng Phạm Thị sống một đời an nhàn, chung hưởng hạnh phúc lứa đôi, Man Thiện Bí Kíp cũng sẽ từ đó mà tuyệt tích theo Triệu gia kiếm phổ, không còn ai ngoài chàng và Phạm Thị biết đến nữa, so với điều Nhã Đằng mong muốn trước khi chết thật có khác gì nhau! Khánh Văn sắp xếp một buổi nọ, định sẽ kể rõ mọi chuyện với Phạm Thị rồi thuyết phục nàng cùng mình về Sơn Tây võ phái. Nào ngờ, chàng chưa kịp mở lời, Phạm Thị đã tâm sự với chàng ý định gầy dựng lại cơ đồ cho dòng tộc. Khánh Văn thử mấy lần khuyên can, Phạm Thị vẫn một mực không nghe, chàng mới nhận ra tình cảm giữa hai người không bao giờ là đủ để Phạm Thị chịu quay đầu. Nghĩ vậy, Khánh Văn bèn giả vờ thuận theo Phạm Thị, chờ đến khi Phạm Thị sơ hở thì lấy trộm kiếm phổ như năm xưa ả đã làm ở Triệu gia, quyết tâm rời bỏ ả. Có khác là, lần này chàng không để lại bức thư giải thích ân oán nào cho Phạm Thị cả.

Sau khi rời xa Phạm Thị, Khánh Văn mới nhận ra tình cảm chàng dành cho ả vô cùng sâu sắc. Tự cảm thấy hổ thẹn với chính mình, với vong hồn Nhã Đằng, lại cảm thấy có lỗi vì đã bỏ rơi Phạm Thị sau hai năm chung sống, chàng buồn bực lang thang mãi ở Cổ Pháp mà không chịu quay về Sơn Tây võ phái.

Cơ duyên đưa đẩy khiến Khánh Văn tình cờ gặp được thiền sư Vạn Hạnh tại chùa Quỳnh Lâm. Chàng bèn nảy sinh ý định lưu lại chùa một thời gian, nghe các thiền sư thuyết giảng để tìm lấy chút thanh thản. Càng ở, Khánh Văn càng không muốn rời khỏi chùa; càng nghe, Khánh Văn càng thêm chán nản hồng trần. Sau cùng, chàng quyết định xuống tóc, sống một đời tu hành, mong có được những ngày tháng yên bình thanh tĩnh nơi cửa Phật. Mấy tháng sau, Vạn Hạnh đưa Khánh Văn đến tu hành tại chùa Ứng Tâm.

Khánh Văn xuống tóc được gần một năm thì bất ngờ gặp lại Phạm Thị. Chàng kinh hoàng chứng kiến cảnh họ Phạm bụng mang dạ chửa, tay cầm thanh trường kiếm của Triệu gia đứng ngay trước sân điện chùa Ứng Tâm. Ánh mắt Phạm Thị Thanh khi ấy lạnh lùng băng giá, chất chứa bao nỗi thống hận, đặc quánh một màu chết chóc. Ả cười gằn mấy tiếng man rợ rồi toan cầm kiếm tấn công Khánh Văn thì bất ngờ ngã ngửa ra sân, thét lên kinh hoàng. Các sư sãi khác thấy cảnh ấy đều kinh hãi bỏ chạy. Có người chạy đến chùa Quỳnh Lâm báo tin cho sư Vạn Hạnh, Vạn Hạnh bèn tức tốc chạy đến Ứng Tâm. Khi đến nơi, Vạn Hạnh không còn thấy Phạm Thị Thanh đâu nữa mà chỉ thấy Khánh Văn đang run lẩy bẩy, đứng lặng người nhìn một đứa trẻ sơ sinh đang khóc ré lên ngay giữa sân chùa, bên cạnh nó là một mảnh vải có viết hai chữ “Công Uẩn” bằng máu. Đứa trẻ ấy chính là Lý Công Uẩn.

Khánh Văn cho rằng Công uẩn là con trai của mình và Phạm Thị, trong lòng vừa sợ hãi tột độ, vừa hối hận khôn cùng. Chàng bất chấp mọi điều tiếng, nhận nuôi Công Uẩn, chỉ mong giảm nhẹ tội nghiệt của bản thân, mà cũng là để chuộc tội với Phạm Thị. Thời ấy ở Cổ Pháp, người ta còn truyền tụng cả đôi câu lục bát để chế giễu Khánh Văn:

“Con ai đem đến chùa này

Nam mô di Phật, con thầy thầy nuôi.”

(5)

Đến lúc này, Khánh Văn không thể giấu Vạn Hạnh chuyện quá khứ, bèn đem Triệu gia kiếm phổ giao cho Vạn Hạnh, còn mình thì tiếp tục sống đời tu hành ở chùa Ứng Tâm, nuôi dạy Công Uẩn khôn lớn. Về phần Phạm Thị, kiếm phổ kia ả không cần đến nữa, vì thế cũng chẳng màng đến quấy phá chùa Ứng Tâm, có thể là sau bằng ấy năm, ả đã thuộc lòng mọi thứ ghi chép trong ấy.

Thời gian thấm thoắt qua đi, Công Uẩn mỗi ngày khôn lớn. Tư chất y lúc nhỏ vốn đã hơn hẳn những đứa trẻ khác, thể chất lại cứng cỏi mạnh khỏe, Khánh Văn vì vậy mà dạy cả chữ nghĩa lẫn võ công cho y. Tuy nhiên, Công Uẩn không thực sự ham thích chữ nghĩa kinh kệ, lại tỏ ra nhanh nhạy với các môn võ công. Sợ Công Uẩn ở bên mình mãi, được nuông chiều mà không lo học hành đàng hoàng, Khánh Văn bèn gửi y sang chùa Quỳnh Lâm, khẩn cầu thiền sư Vạn Hạnh nhận y làm đệ tử. Vạn Hạnh tuy có khắt khe hơn so với Khánh Văn, nhưng bản tính của Công Uẩn lại rất ngang bướng, y liên tục bị Vạn Hạnh trách phạt vì những trò nghịch ngợm phá phách của mình. Một lần nọ, y bị phạt trói cả đêm ở ngoài trời. Vạn Hạnh phạt xong lại nghĩ mình quá nhẫn tâm, bèn đi ra sân toan tha cho y. Nào ngờ vừa đến gần, trông thấy Công Uẩn chẳng những không buồn rầu mà lại còn đang hứng chí đọc một bài thơ, sư Vạn Hạnh giật mình kinh hãi lùi lại đến mấy bước. Ông đứng thừ người ra, lắng nghe từng câu một:

“Thiên vi khâm chẩm, địa vi chiên
Nhật nguyệt đồng song đối ngã miên
Dạ thâm bất cảm tràng thân túc
Chỉ khủng sơn hà xã tắc điên.”

(Màn có trời cao, chiếu đất liền
Cùng trăng thanh thả giấc thần tiên
Suốt đêm nào dám vung chân duỗi
Chỉ sợ sơn hà xã tắc nghiêng.)

(6)

Ngẫm thấy Công Uẩn khi ấy bất quá chỉ mới mười ba mười bốn tuổi mà đã dám xuất ngôn ngạo mạn như vậy, Vạn Hạnh một mặt lo sợ nhưng mặt khác lại rất hài lòng. Ông bèn trách mắng, bảo y không được nói ra những câu như vậy nữa, song lại tha bổng cho y. Sau nhiều ngày suy nghĩ đắn đo, nhận thấy Công Uẩn tư chất không hợp với kinh kệ Phật pháp, thân thế lại có liên quan đến Triệu gia kiếm phổ, Vạn Hạnh bèn giao bộ kiếm phổ ấy cho y tự mình luyện tập. Tuy nhiên, ông đã đổi tên Triệu gia kiếm phổ thành Phật Môn kiếm phổ để né tránh những bất trắc không đáng có về sau.

Công Uẩn càng lớn càng bộc lộ những phẩm chất của một mãnh tướng trí dũng song toàn. Khi theo Vạn Hạnh về Hoa Lư, y được Đại Hành hoàng đế ngỏ ý thu nạp. Sau vài năm, sự nghiệp của Công Uẩn lên như diều gặp gió. Y đối nhân xử thế ôn hòa điềm đạm, rất được lòng vua và các hoàng tử. Vua Lê vì quá tin yêu, bèn gả con gái là công chúa Hiếu Minh cho y. Vị thế của y trong triều đình vì vậy càng thêm vững chắc.

Vạn Hạnh chán nản chuyện triều chính, bỏ về Cổ Pháp tu hành, dặn dò Công Uẩn ở lại Hoa Lư phải thật thận trọng. Được một hai năm sau, Phạm Thị Thanh bỗng dưng lại tìm đến chùa Ứng Tâm quấy phá. Trong số các sư sãi có kẻ trước khi xuất gia đã từng lăn lộn nhiều năm trên chốn giang hồ, nhờ thanh trường kiếm gia bảo mà phát giác ra ả chính là Hắc Diện phu nhân. Các nhà sư và chú tiểu vì thế lại càng kinh hãi, kéo nhau chạy cả sang chùa Quỳnh Lâm. Sư Vạn Hạnh sau khi hiểu rõ sự tình, đoán chừng Phạm Thị Thanh đến Ứng Tâm là để tìm con, bèn cho người gọi Công Uẩn về gấp.

Phạm Thị Thanh từ khi tới chùa Ứng Tâm, đêm đêm đều buộc Khánh Văn phải lộ diện. Thế nhưng suốt một tuần liền, Lý Khánh Văn chỉ đóng cửa tụng kinh niệm Phật, tuyệt nhiên coi như ả không hề có mặt. Phạm Thị Thanh nhiều lần tức giận phá cửa xông thẳng vào ngôi nhà nhỏ của Khánh Văn, vung kiếm toan chém, nhưng thiền sư vẫn một mực chú tâm niệm chú gõ mõ. Ả lì lợm bám trụ tại chùa Ứng Tâm hơn một tuần. Vào đêm Nhật Lão xuất hiện, Phạm Thị bên ngoài nghe lén hai sư huynh đệ hàn huyên tâm sự, liền phát giác con trai mình đã theo Vạn Hạnh từ nhiều năm trước. Ả phá cửa xông vào toan hỏi cho ra lẽ, liền bị Nhật Lão vung đao tấn công. Đánh nhau hồi lâu, Phạm Thị đang chiếm thượng phong thì đột nhiên bỏ chạy. Ả phóng như bay, thẳng một mạch đến chùa Quỳnh Lâm. Thấy trong điện Tam Bảo có ánh sáng lập lòe, Phạm Thị sinh nghi, liền đi tìm phòng của sư trụ trì, lục tìm đến đâu thì thổi mê hương đến đó.  Quả nhiên có một phòng trống không, đúng là phòng trụ trì, ả bèn trở ra, tiến thẳng vào điện Tam Bảo.

Dù trước đó thiền sư Vạn Hạnh và Hắc Diện phu nhân chưa từng gặp nhau, nhưng chỉ cần dựa vào từng cử chỉ ma quái của ả, Vạn Hạnh đã có thể lờ mờ đoán ra. Lúc đầu, do còn một hai phần nghi ngờ, Vạn Hạnh mới thử gọi ả là Triệu phu nhân. Phạm Thị Thanh vốn đến chùa đòi người nên không màng che giấu thân phận, nghe Vạn Hạnh gọi mình ba tiếng “Triệu phu nhân” thì liền bật cười ngạo nghễ, biết ngay những uẩn khúc năm xưa vị thiền sư ấy đều đã tỏ tường.

Kể đến đây, Vạn Hạnh trầm ngâm hồi lâu rồi nói:

  • Mọi chuyện sau đó, các vị ai cũng đã chứng kiến cả rồi! Bần tăng hôm nay trút sạch nỗi lòng, đem chuyện cũ ra nói, không phải chỉ vì Công Uẩn, mà còn vì Cao thí chủ và Bình đã ra tay tương trợ, chân tướng bên trong không thể giấu hai người được, huống chi Hắc Diện phu nhân lại là…

Sư Vạn Hạnh thở dài rồi yên lặng, chần chừ không nói tiếp. Nhật Lão chau mày một lúc, sau như ngộ ra điều gì, bèn nói:

  • Thiền sư an tâm, tôi xin hứa với thiền sư, chuyện hôm nay, hai ông cháu tôi nhất định không để lộ ra ngoài.

Nét mặt Vạn Hạnh giãn ra, tựa hồ mọi ưu tư phiền muộn còn vương lại sau tiếng thở dài khi nãy đều đã vơi đi. Thì ra, Vạn Hạnh trước sau vẫn lo sợ một điều, chuyện Công Uẩn là con của Phạm Thị Thanh nếu truyền ra ngoài, thế lực của Công Uẩn tại triều đình sẽ suy giảm. Vạn Hạnh bèn cố ý đem kể ngọn ngành mối quan hệ huyết thống giữa Khánh Văn và Công Uẩn, thậm chí không tiếc giấu cả Triệu gia kiếm phổ cũng chỉ hi vọng Nhật Lão sẽ vì giao tình lâu năm với Khánh Văn mà không tiết lộ với ai khác.

Công Uẩn từ đầu đến cuối vẫn im lặng lắng nghe, nét mặt tuyệt không một chút động đậy. Thế nhưng, tâm tư của y nào có được bình thản như vậy. Y cứ trăn trở mãi một nỗi, kiên nhẫn ngồi nghe đến hết câu chuyện chỉ để tìm kiếm cho mình câu trả lời thích đáng, dù khi đó đầu óc y đã rối tung cả lên, chẳng còn muốn nghe thêm điều gì nữa.

Vạn Hạnh kể xong rồi mà nỗi băn khoăn trong lòng Công Uẩn vẫn chưa được giãi bày. E rằng, khúc mắt ấy, y chỉ có thể đi hỏi một người mà thôi.

Ngô Bình ngồi cạnh bên Công Uẩn, từ lâu đã chú ý đến nét mặt lạnh lùng của y, bỗng thấy có chút cảm thông, bèn đưa tay nắm lấy bàn tay y. Công Uẩn quay sang nhìn nó, gương mặt phẳng lặng nhưng ánh mắt thì cuộn đầy giông bão.

Chú thích:

(2)  Triệu Quang Phục: là tên thật của Triệu Việt Vương, người huyện Chu Diên, uy tráng dũng liệt, theo Lý Nam Đế đi đánh dẹp có công, được trao chức tả tướng quân. Lý Nam Đế mất, ông xưng vương, sau khi đánh tan quân nhà Lương năm 550, ông cho đóng đô ở Long Biên, sau dời sang Vũ Ninh (huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh ngày nay). Năm 571, ông bị quân của Lý Phật Tử đánh úp và thua trận. Ông tự tử ở cửa sông Đáy, kết thúc triều đại Triệu Việt Vương.

(3)  Phạm Bạch Hổ (910-972): còn có tên Phạm Phòng Át, người Nam Sách tỉnh Hải Dương, là võ tướng các triều Ngô, Đinh và là một trong 12 sứ quân cuối thời nhà Ngô. Phạm Bạch Hổ từng tham gia trận Bạch Đằng năm 938 chống quân Nam Hán. Ngô Quyền mất, ông chiếm giữ đất Đằng Châu (vùng Hưng Yên, Thái Bình bây giờ) và trở thành một tướng trong loạn 12 sứ quân (966 – 968). Sau, ông quy thuận và theo Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp các sứ quân khác.

(4)  Truyền thuyết mũ đâu mâu gắn móng rồng: Năm 549, Triệu Quang Phục ở trong đầm Dạ Trạch thấy quân Lương không lui, mới đốt hương cầu đảo, khẩn thiết kinh cáo với trời đất thần kỳ, thế rồi có điềm lành được mũ đâu mâu móng rồng dùng để đánh giặc. Từ đó, quân thanh lừng lẫy, đi đến đâu đều không ai địch nổi (tục truyền rằng thần nhân trong đầm là Chử Đồng Tử bấy giờ cưỡi rồng vàng từ trên trời xuống, rút móng rồng trao cho ông, bảo gài lên mũ đâu mâu mà đánh giặc). Năm 557, Cảo Nương, con gái của Triệu Quang Phục, lấy con trai của Lý Phật Tử là Nhã Lang. Năm 570, Nhã Lang nói với vợ rằng: “Trước hai vua cha chúng ta cừu thù với nhau, nay là thông gia, chẳng cũng hay lắm ư? Nhưng cha nàng có thuật gì mà có thể làm lui được quân của cha ta?”. Cảo Nương không biết ý của chồng, bí mật lấy mũ đâu mâu móng rồng cho xem. Nhã Lang mưu ngầm tráo đổi cái móng ấy, rồi bảo riêng với Cảo Nương rằng: “Ta nghĩ ơn sâu của cha mẹ nặng bằng trời đất, vợ chồng ta hòa nhã yêu quý nhau không nỡ xa cách, nhưng ta phải tạm dứt tình, về thăm cha mẹ”. Nhã Lang về, cùng với cha bàn mưu đánh úp, chiếm được nước.

(5)  Con ai đem đến chùa này/ Nam mô di Phật con thầy thầy nuôi: hai câu thơ được truyền tụng tại vùng dân gian tỉnh Bắc Ninh, ứng với sự kiện nhà sư Lý Khánh Văn nhận đứa trẻ con của một người đàn bà họ Phạm (có truyền thuyết cho rằng bà tên là Phạm Thị Ngà) sinh ra ngay trước cửa chùa Ứng Tâm làm con nuôi.

(6)  Tức cảnh: tên của bài thơ gồm 4 câu chữ Hán do Lý Công Uẩn làm khi còn là một chú tiểu tại chùa Quỳnh Lâm, tỉnh Bắc Ninh. Trong một lần bị sư Vạn Hạnh phạt trói ở ngoài trời, bị muỗi đốt mà không làm gì được, Lý Công Uẩn đã cao hứng đọc lên bốn câu thơ bằng tiếng Hán.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s