Chương 18: Giả mạo (phần 1)

Cách xa đã mấy năm trời

Từ thời thơ trẻ tới hồi lớn khôn.

Gặp nhau trời bể mênh mông

Ấy vì duyên nợ hãy còn đến nay.

Phần 1:

Đại Hành hoàng đế vừa dứt lời, mấy chục cặp mắt lập tức đổ dồn về phía Khai Minh Vương Lê Long Đĩnh. Long Đĩnh đáp ngay, giọng tịnh không một chút lạnh lùng giận dữ mà lại cực kỳ ôn hòa lễ độ, cứ như thể trước và sau khi Đại Hành hoàng đế đến, y là hai con người hoàn toàn khác nhau vậy:

  • Thưa phụ hoàng, là do Ngọc Minh vương tử đả thương nhi thần, nhưng chỉ là bất cẩn!

Ngô Bình biết Khai Minh Vương vì chiều theo ý Ngọc Minh vương tử mà không nói ra sự thật, trong lòng cảm thấy có chút áy náy. Y khẽ liếc mắt về phía Công Uẩn, chỉ kịp tỏ ý muốn trình bày mọi chuyện với Đại Hành hoàng đế, liền thấy Công Uẩn nghiêm mặt lại, lắc đầu một cái thật nhẹ, ngăn không cho y lên tiếng.

Đại Hành nhíu mày quan sát Long Đĩnh và Ngọc Minh vương tử rồi hỏi tiếp:

  • Thế tại sao Ngọc Minh vương tử lại vô duyên vô cớ đánh nhau với người ta?

Long Đĩnh toan đáp tiếp thì Công Uẩn đã bước lên phía trước, cúi đầu nói:

  • Bẩm hoàng thượng! Vừa rồi, có một tên trộm cả gan đột nhập trại của Ngọc Minh vương tử lấy mất một con nai con. Chúng thần phát giác, lập tức đuổi theo. Đến bìa rừng, tên trộm ấy vô tình đụng độ với sư đệ của thần rồi bị bắt giữ. Khi đó, Khai Minh Vương giận dữ toan giết chết hắn. Thần trộm nghĩ, kẻ ấy tuy phạm vào trọng tội nhưng không đáng bị xử chết, bèn ra sức khuyên can Khai Minh Vương. Tuy vậy, thần ngu muội không biết cách nói, khiến Khai Minh Vương bực mình động thủ, bất đắc dĩ thần đành phải chống đỡ. Ngọc Minh vương tử vì muốn ngầm giúp Khai Minh Vương, đã âm thầm phóng ám khí trợ giúp. Chú tiểu này trông thấy liền ngăn vương tử lại, lát sau cũng không tránh khỏi động thủ. Trong lúc hỗn loạn, mấy mũi ám khí văng tứ tung, vô tình trúng vào người Khai Minh Vương. Ngọc Minh vương tử bèn trách sư đệ của thần đã cản tầm nhìn khiến Khai Minh vương bị trúng kim châm, liền giao ước rằng nếu trong vòng mười chiêu mà sư đệ có thể thắng thì vương tử sẽ rộng lượng bỏ qua, còn nếu không thì…

Đại Hành vừa nghe vừa gật gù, đến đó liền sốt ruột ngắt lời Công Uẩn, giọng nghiêm lại:

  • Thế sao lúc chúng nó đánh nhau, ngươi không can ngăn?

Không đợi Công Uẩn đáp tiếp, Long Đĩnh đã lên tiếng:

  • Là nhi thần không cho Lý tướng quân can thiệp! Ngọc Minh vương tử tính khí ngang ngạnh bướng bỉnh, đã muốn đánh thì chẳng ai cản nổi. Nếu không bắt Lý tướng quân đứng ngoài, e rằng Ngọc Minh vương tử giận dữ đòi đánh cả Lý tướng quân thì chúng nhi thần không biết phải làm thế nào. Vả lại trước đó, khi nhi thần đôi co với Lý tướng quân, Ngọc Minh vương tử đã nhanh trí bắn đi một mũi tên lửa đến chỗ phụ hoàng, nhi thần nghĩ sớm muộn gì phụ hoàng cũng sẽ cử người đến nên cứ để hai người họ đánh nhau.

Đại Hành hoàng đế im lặng, cặp chân mày lại chau vào nhau, căng thẳng. Xung quanh, không một kẻ nào dám thở mạnh, tất cả đều im thin thít hồi hộp chờ đợi. Một lúc thật lâu sau đó, đột nhiên, Đại Hành hoàng đế phá ra cười thật to, vui vẻ quay sang nháy mắt với Nhân Trí Vương:

  • Này Lê Thám! Ngươi thấy trước đây trẫm nói có đúng không? Hôm nay thì rõ rồi, Ngọc Minh vương tử chẳng ngại thượng cẳng chân hạ cẳng tay với cả người xuất gia, đều là vì Khai Minh Vương! Bọn chúng tuy xét ra chẳng họ hàng ruột thịt gì với nhau, nhưng giao tình lại thật là hiếm thấy! Thế mà trẫm có ý để Ngọc Minh vương tử cùng đến Đằng châu với Khai Minh vương (1), ngươi lại còn không chịu nghe theo!

Lời ấy vừa thốt ra, mọi người đều thở phào nhẹ nhõm, duy chỉ có Nam Phong Vương, Khai Minh Vương và Ngọc Minh vương tử là tỏ chút thái độ bất thường. Nam Phong Vương Long Việt vẻ mặt có hơi bất mãn, lén lút nhìn Đại Hành nhưng không dám nói gì. Khai Minh Vương Long Đĩnh xem chừng lại rất hài lòng, khóe miệng chếch nhẹ thành một điệu cười đầy ẩn ý. Còn Ngọc Minh vương tử, cứ hết ngờ vực nhìn vua Lê lại quay sang lo ngại nhìn Nhân Trí Vương Lê Thám. Trông thấy bộ dạng ấy của vương tử, Nhân Trí Vương chỉ gượng cười rồi thưa lại với Đại Hành hoàng đế:

  • Thần đệ nào dám kháng chỉ! Hiềm vì Ngọc Minh vương tử tuổi vẫn còn nhỏ, đến Đằng châu sợ không giúp được gì mà chỉ làm vướng tay Khai Minh Vương. Hơn nữa, Trân vương phi lúc sinh thời đã sớm nuông chiều mà thần đệ cũng quá dễ dãi khiến vương tử càng lớn tính khí càng chẳng giống ai. Nay Khai Minh Vương lại cũng chiếu cố nuông chiều quá độ, chỉ e sẽ làm vương tử càng lúc càng bất trị thôi!

Đại Hành gật đầu nói:

  • Thế thì thư thả vài năm nữa vậy!

Nhân Trí Vương bèn cúi người nói:

  • Tạ ơn hoàng thượng!

Đại Hành cười thật thoải mái, sau cũng nghiêm giọng lại:

  • Chú tiểu kia, lại gần đây nào!

Nghe vua gọi đến mình, Ngô Bình không khỏi giật thót người. Y lập tức bước lên vài bước, chưa kịp quỳ xuống thì Đại Hành đã lên tiếng ngăn lại:

  • Miễn cho ngươi! Lẽ ra hôm nay phải phạt ngươi tội cả gan động thủ với Ngọc Minh vương tử, nhưng suy cho cùng, chỉ vì ngươi bị ép buộc, lại đánh rất khá, trẫm tha cho!

Ngô Bình thở phào nhẹ nhõm, cúi đầu tạ ơn. Lê Đại Hành hỏi tiếp:

  • Ngươi tên gì? Quê quán ở đâu? Xuất thân thế nào?

Ngô Bình đáp:

  • Bẩm hoàng thượng, tôi họ Ngô, tên Bình. Khi xưa từng sống ở đạo Lâm Tây, chẳng may cha mẹ mất sớm nên theo ông ngoại đến châu Cổ Pháp. Cách đây ba năm thì được thiền sư Vạn Hạnh nhận làm đệ tử.

Đại Hành hoàng đế nhìn hai thầy trò sư Vạn Hạnh một lúc rồi đột ngột lạnh giọng chuyển đối tượng:

  • Phạt tên trộm kia hai mươi roi, sau đó chặt bàn tay phải của nó rồi thả về!

Tên trộm nghe đến đây, liền kêu gào thảm thiết. Ngô Bình đứng chết lặng tại chỗ, bất giác cảm thấy hối hận vì đã giúp đám vương tôn quý tộc bắt hắn lại.

Tên trộm nhanh chóng bị giải đi, tiếng kêu gào càng lúc càng thảm thiết. Người ta lôi hắn đến bãi đất gần đó, một tên lính cầm sợi roi da, mạnh tay quất chan chát lên người hắn. Đại Hành hoàng đế thản nhiên lướt nhìn, định ra lệnh cho toàn bộ xa giá quay về trại thì Ngô Bình bất ngờ sụp xuống đất, khẩn khoản kêu xin, giọng run run sợ hãi:

  • Hoàng thượng thánh minh! Kẻ ấy gia cảnh bần hàn, vì đói mà làm bừa, bị phạt roi là đáng lắm; nhưng nếu chặt tay của hắn, sau này hắn biết làm gì mà nuôi sống cả nhà năm người!

Ai nấy kinh dị nhìn Ngô Bình, sắc mặt tái mét. Sư Vạn Hạnh đứng yên tại chỗ, đã bắt đầu nhắm mắt lần chuỗi hạt trên tay, miệng lâm râm tụng niệm. Đại Hành hoàng đế đanh mặt lại, lạnh lùng hỏi:

  • Tại sao trẫm lại phải quan tâm đến việc ấy? Bàn tay trộm cắp lý gì còn giữ lại để tái phạm?

Mồ hôi đã ướt đẫm cả lưng áo nhưng Ngô Bình vẫn cảm thấy toàn thân lạnh lẽo, y mím môi nghĩ: “Nếu hắn bị chặt tay, hóa ra ta gián tiếp hại đến cả nhà hắn. Giờ ta thay hắn nói vài lời, nếu lọt tai hoàng đế, biết đâu hắn sẽ giữ được bàn tay của mình; còn nếu khiến hoàng đế nổi giận, cùng lắm là cái mạng này không còn, kẻ kia vốn không thể bị xử nặng hơn được nữa. Đành liều lần này vậy!”. Ý nghĩ ấy lướt qua đầu, Ngô Bình bèn cố lấy sức đáp, giọng vẫn run rẩy nhưng từng tiếng đều rất rõ ràng:

  • Hoàng thượng chặt tay y rồi, y không thể làm lụng, vợ con y sẽ đói. Người đói rồi, ắt sẽ lại nghĩ đến trộm cắp để sống qua ngày. Một người bị chặt tay, tự dưng lại sinh ra thêm vài tên trộm cắp. Còn nếu hoàng thượng rộng lượng từ bi, chỉ phạt đòn, sau này y hồi phục sức lực, cảm tạ thánh ân, sẽ lại làm ăn chân chính, dạy dỗ con cái không được phạm vào quốc pháp. Khi ấy không những bớt đi một tên trộm mà còn sinh ra nhiều người chân chính. Xin hoàng thượng rộng lượng từ bi, tha hình phạt chặt tay cho y.

Lời ấy nói ra, mọi người lại được dịp kinh ngạc sửng sốt. Ngô Bình thưa xong, đầu cúi rạp xuống, không dám ngẩng lên, chỉ nghe ngay phía trên, sư Vạn Hạnh đã dừng lầm rầm niệm kinh mà thở nhẹ ra một hơi. Đại Hành hoàng đế im lặng một lúc lâu, ai nấy đều chỉ dám khe khẽ quan sát, hồi hộp chời đợi. Ngô Bình thân hình phút chốc cứng như đá, một ngón tay xem chừng cũng không còn sức để nhích.

Sau cùng, Lê Đại Hành lãnh đạm nói:

  • Đánh thêm mười roi nữa, miễn chặt tay!

Lúc này, Ngô Bình mới có thể thở phào nhẹ nhõm, nhưng vẫn chưa dám ngước mặt lên. Lại thêm một khoảnh khắc yên lặng nữa trôi qua trước khi Đại Hành hoàng đế bất giác bật cười ha hả:

  • Thiền sư Vạn Hạnh, trẫm phục ngài rồi! Ngài thật biết dạy đệ tử!

Vạn Hạnh chắp tay khom người:

  • Tạ ơn hoàng thượng!

Đại Hành lại cười lớn thêm một tràng sảng khoái nữa rồi mới hạ lệnh quay về. Trong phút chốc, đoàn người ngựa và con voi lớn đã rời đi thật xa, thiền sư Vạn Hạnh được lệnh tiếp tục theo hầu vua Lê nên cũng không tiện ở lại hỏi han Ngô Bình. Duy chỉ có Công Uẩn là còn chần chừ đứng lại, bọn Nam Phong Vương, Khai Minh Vương và Ngọc Minh vương tử vì thế mà cũng chưa vội đi. Đợi khi xa giá đã khuất, Ngô Bình mới dám đứng dậy, lau vội vầng trán ướt đẫm mồ hôi rồi quay sang cúi đầu trước Ngọc Minh vương tử, cảm kích nói:

  • Tạ ơn vương tử tha mạng!

Ngọc Minh vương tử vẫn còn chưa hết kinh ngạc, nhìn Ngô Bình chăm chú, nghe y đa tạ thì liền giật mình cười khẩy, nói:

  • Đừng tạ ơn ta, nếu hoàng thượng và Khai Minh Vương mà đã muốn lấy mạng ngươi thì có mười Ngọc Minh vương tử ta cũng không xin nổi cho ngươi đâu!

Nói rồi, hắn và Nam Phong Vương đỡ Khai Minh Vương lên ngựa. Long Đĩnh không quên trừng mắt hằn học nhìn Ngô Bình một lần nữa rồi mới cùng hai người kia thúc ngựa chạy đi.  Ba người ấy đi rồi, Ngô Bình vẫn chưa hết bàng hoàng; dường như không thể tin mình vừa dễ dàng thoát tội, y bèn quay sang Công Uẩn, mơ hồ hỏi:

  • Sư huynh, tôi được tha rồi sao?

Công Uẩn thở ra, nhìn Ngô Bình một lúc rồi nói:

  • May cho ngươi đấy! Làm hồn vía người ta được một phen hốt hoảng. Khai Minh Vương chắc chắn vẫn còn rất bực bội nhưng vì Ngọc Minh vương tử nên mới chịu im lặng cho qua. Hôm nay ngươi gặp may, chuyện ngươi chạy tội cho tên trộm, hoàng thượng còn có thể bỏ qua, chứ nếu ngài biết rõ vì sao Khai Minh Vương bị thương, e rằng sư phụ cũng không xin nổi cho ngươi đâu. Ngươi đánh Ngọc Minh vương tử như thế, tốt nhất sau này đừng gặp lại Khai Minh Vương. Còn về đức vua, dễ dàng tha bổng cho ngươi trước là vì nể sư phụ, sau là vì ngươi đánh cũng không tồi, nói chuyện lại có lý lẽ. Hoàng thượng vốn rất trọng dụng những kẻ giỏi võ, thấy ngươi còn nhỏ mà võ công đã khá đến thế nên không nỡ trách phạt, hẳn là có ý dùng đến sau này. Hơn nữa, tâm trạng hoàng thượng hôm nay rất tốt, có lẽ vì vậy mà ngay cả bọn ta cũng không bị trách mắng.

Ngô Bình nghe những lời ấy, bất giác nhớ đến thái độ của Khai Minh Vương và Ngọc Minh vương tử, liền cảm thấy có chút lạ lùng, bèn nói:

  • Lạ thật! Trông Khai Minh Vương và Ngọc Minh vương tử chẳng giống anh em, cũng không ra bạn bè. Giao tình sâu đậm như vậy quả là rất khó hiểu.

Công Uẩn trầm giọng kể:

  • Cách đây ba năm, trong một lần ra hồ chơi cùng hai anh em Nam Phong Vương, Ngọc Minh vương tử chẳng may sơ suất trượt chân ngã xuống nước. Hồ thì sâu, Ngọc Minh vương tử lại không biết bơi, bọn thị nữ và nội quan đi theo cũng không ai biết bơi. Đang khi hỗn loạn, Khai Minh Vương cứ thế để nguyên quần áo mà nhảy xuống nước cứu người. Lúc ấy tháng chạp, khí trời rét đậm, nước trong hồ vì thế cũng rất lạnh, thấy Ngọc Minh vương tử ngã, ai nấy đều hoảng hồn, nay lại thêm Khai Minh Vương nhảy xuống, mọi người đều bị kinh động, sợ hãi đến độ mặt cắt không còn hột máu. Nhưng khá khen, Khai Minh Vương khi ấy cũng chỉ mười tuổi mà bơi lội rất cừ, thể chất lại rất khỏe mạnh, chỉ sau vài cái gạt nước đã đưa được Ngọc Minh vương tử lên bờ. Khi đã lên bờ rồi, toàn thân Ngọc Minh vương tử lạnh ngắt, tím tái, nằm bất động như đã chết. Khai Minh Vương bèn dùng tay ép liên tục vào bụng Ngọc Minh vương tử, lại kê sát miệng thổi hơi vào người vương tử. Bọn nô tài và thị vệ chỉ biết nín thở đứng quan sát. Khi Nam Phong Vương gọi được Nhân Trí Vương đến thì Ngọc Minh vương tử cũng vừa hồi tỉnh. Ngày hôm ấy, nếu không có Khai Minh Vương cứu mạng, có lẽ Ngọc Minh vương tử đã…

Ngô Bình thở dài, nói:

  • Nhìn bộ dạng lạnh lùng hung bạo ấy mà cũng biết cứu người sao? Chả trách chỉ vì Khai Minh Vương mà vương tử bé ấy đòi đánh nhau với tôi!

Thấy Ngô Bình mơ mơ màng màng, Công Uẩn bèn đánh vào bắp tay nó một cái thật mạnh, nói:

  • Mà này! Hôm nay cũng là một bài học cho ngươi, đánh nhau cái kiểu ấy, nhỡ mấy mũi kim châm của Ngọc Minh vương tử làm Khai Minh vương bất tỉnh chẳng hạn, thì cái mạng ngươi không những không giữ được mà còn làm liên lụy tới sư phụ. Lần sau phải thận trọng hơn, biết chưa?

Ngô Bình gãi đầu, gượng cười đáp:

  • Quả thật lúc đó tôi hành xử thật là ngu xuẩn. Sẽ không có lần sau đâu! Anh về đấy giúp tôi xin lỗi Khai Minh Vương một tiếng nhé, ban nãy tôi quên mất!

Công Uẩn cười nói:

  • Biết lỗi thì tốt rồi! Thôi ngươi về chùa đi, ta cũng phải đi đây!

Công Uẩn vội vàng nhảy lên lưng ngựa, nhanh chóng khuất dạng sau hàng cây. Ngô Bình đứng tần ngần ngó theo một lúc rồi cũng chậm rãi quay về túp lều của Nhật Lão. Hôm nay đã xảy ra biết bao nhiêu chuyện, giờ y chỉ muốn được ngồi tựa đầu vào vai Nhật Lão, ngủ một giấc thật sâu.

Sau bốn năm khổ luyện, Ngô Bình cũng đọc được hết ba mươi phần đầu của Phật Môn kiếm phổ. Lò dò đọc tiếp, y mới giật mình phát hiện, ba mươi phần ấy đem so với phần còn lại thật chẳng thấm vào đâu, chặng đường gian nan không chừng chỉ mới bắt đấu. Hầu hết các chiêu thức sử kiếm cá nhân đều tập trung ở ba mươi phần trước, bốn mươi phần sau chủ yếu viết về trận pháp, tấm da kể từ đó cũng chi chít những hình vẽ kì quái. Trước đây, Ngô Bình dẫu có xem đi xem lại trăm nghìn lần vẫn không sao hiểu nổi mấy hình vẽ ấy có ý nghĩa gì; bây giờ, khi hiểu biết về kiếm phổ đã có chút tiến bộ, y mới lờ mờ đoán ra đó chính là sơ đồ trận pháp, còn như những sơ đồ ấy sử dụng thế nào thì y thật chẳng có lấy một chút manh mối.

Ngô Bình ngồi thừ người bên ánh nến trong căn nhà trống, đã lâu rồi y chưa gặp lại cảm giác bế tắc khi đọc kiếm phổ, đến nỗi phải bất lực ngồi nhìn bốn mươi phần sau ròng rã hơn một tháng trời. Tuy vậy, với bản tính kiên nhẫn được trui rèn lâu năm, chưa một ngày nào y tỏ ra nổi nóng. Cứ thế, Ngô Bình cần mẫn quan sát từng chút một, tay cầm hòn than vẽ trên nền đất, thỉnh thoảng lại động lòng nghĩ đến Xuân Lan: “Giá như có chị ấy ở đây thì thật hay biết mấy!”.

Cũng bốn năm rồi, Ngô Bình chưa gặp lại Xuân Lan. Mấy lần Tòng Phương đến chùa Quỳnh Lâm, Ngô Bình đều nhờ vả y hỏi thăm tin tức của nàng. Tòng Phương đơn thuần đồng ý, sau đó hăng hái kể lại những gì mình đã nghe được từ Thạch Hà phái, ánh mắt lấp láy như cố chôn giấu xúc cảm mơ hồ. Nhận thấy có chút bất thường, Ngô Bình không khỏi buông lời chòng ghẹo, Tòng Phương chỉ đáp lại bằng thinh lặng cùng sắc mặt đỏ ửng. Về sau, Ngô Bình mới biết, mỗi lần xuống Cổ Pháp, bất luận là có hay không có việc nhờ vả, Tòng Phương đều tiện thể chạy đến châu Thạch Hà trước khi trở về Mộc Hương sơn trang. Phát hiện đó ban đầu khiến Ngô Bình nảy sinh chút đố kỵ, bèn hờn dỗi bảo:

  • Anh đến đó mà không cho tôi biết! Anh biết nhớ người ta, còn tôi thì không sao?

Tòng Phương bối rối đáp, vẻ mặt rất ư khổ sở:

  • Thuộc hạ không dám! Vì biết công tử không thể rời khỏi đây nên cũng không tiện nói ra, sợ công tử buồn.

Cứ hễ Ngô Bình giận dỗi, Tòng Phương chỉ cần mở miệng nói mấy tiếng “công tử” với “thuộc hạ” là Ngô Bình liền thôi không nói này nói nọ nữa. Căn bản vì y chưa bao giờ xem Tòng Phương là thuộc hạ, cũng không muốn để Tòng Phương xem y như chủ nhân.

Sau lần ấy, Ngô Bình và Xuân Lan thỉnh thoảng lại trao đổi thư từ thông qua Tòng Phương, chủ yếu chỉ là thăm hỏi thân mật. Hai người xa cách đã lâu, nề nếp sinh hoạt khác hẳn, khó tránh khỏi rơi vào cảnh không còn biết nói gì với nhau. Tuy vậy, bức thư nào của hai người cũng có mấy câu đại loại như “Tôi nhớ chị nhiều lắm!”, hoặc là “Đồ ngốc, ta cũng nhớ ngươi!”, khiến cho Ngô Bình mười lần như một, đọc xong thư cứ vì những câu nọ mà ngồi thừ người nghĩ ngợi vẩn vơ: “Biết đến bao giờ cô ấy mới hết bảo mình ngốc?”.

Gần đây, đôi lúc cảm thấy quá chán nản với việc luyện kiếm, Ngô Bình đã lấy giấy vẽ lại một hình bất kì trong Phật Môn kiếm phổ, định nhờ Tòng Phương chuyển giúp cho Xuân Lan. Thế nhưng sau cùng, y đều phải tự tay xé bỏ. Dù biết rằng giữa mình và Xuân Lan chẳng nên giấu giếm nhau chuyện gì, nhưng y thật lòng không muốn lại bị nàng bảo là ngốc.

Sau nhiều tuần dốc công suy nghĩ mà chẳng có kết quả gì, Ngô Bình đành quay sang nghiền ngẫm mấy lời căn dặn của thiền sư Vạn Hạnh ngày trước:

“Phương vị của Kim Yên Trận, Linh Cung Thập Nhị Trận và phương vị của Phật Môn kiếm pháp rất giống nhau, vì chúng đều là những môn công phu cổ.

… Hơn phân nửa nội dung của bộ kiếm phổ này là áp dụng những chiêu thức tinh vi vào trận pháp dựa theo Thiên Can Địa Chi.

… Ta chỉ biết những bài đồng dao về thiên nhiên có liên quan rất nhiều đến kiếm phổ này, còn như liên hệ thế nào thì bản thân ta vẫn còn thấy rất mơ hồ, nếu con tiếp tục có duyên với kiếm phổ, sẽ có ngày con tự mình khám phá được những điều ấy…”

Lời thiền sư dĩ nhiên chưa bao giờ Ngô Bình loại ra khỏi đầu. Chỉ có điều, mấy chữ “Thiên Can Địa Chi”, nghe thì gần gũi đơn giản nhưng kỳ thực lại vô cùng phức tạp. Thiên Can mười bộ gồm Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý; Địa Chi lại gồm đến mười hai bộ là Tí, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Nếu đem ghép lại với nhau, sẽ có tổng cộng sáu mươi bộ, gọi là Lục Thập Hoa Giáp. Lục Thập Hoa Giáp lại bị chi phối bởi Ngũ Hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Suy ra phương vị theo Đông, Tây, Nam, Bắc, xoay vòng thành trận pháp, vì thế mà lại càng phức tạp hơn hẳn so với Linh Cung Thập Nhị Trận và Kim Yên Trận, vốn mỗi loại chỉ trên dưới mười bộ. Đó là chưa kể đến tính đồng bộ của các chiêu thức và tương sinh tương khắc giữa các Hoa Giáp trong trường hợp những người tham dự vào trận pháp có võ công không đều nhau, kẻ cao người thấp, kẻ nhu người cương.

Ròng rã ba tháng nghiền ngẫm bốn mươi phần viết về trận pháp của Phật Môn Kiếm Phổ, sau cùng, Ngô Bình cũng lờ mờ đoán ra được: trận pháp ấy sở dĩ rối tung rối mù, vô cùng khó hiểu, là vì nó chưa được viết hoàn chỉnh; có vẻ như người chép lại kiếm pháp lên tấm da này cũng chỉ góp nhặt những điều rất mơ hồ từ Man Thiện Bí Kíp về cách lồng ghép Thiên Can vào với Địa Chi mà thực tâm chưa hề hiểu hết. Nghĩ vậy, Ngô Bình bèn tách riêng Thiên Can và Địa Chi ra để học, mọi thứ lại trở nên cực kì đơn giản. Sau hơn một năm, y đã học xong mười hai bộ của Địa Chi, cảm thấy khá giống với Linh Cung Thập Nhị Trận nhưng chưa chặt chẽ bằng, lại chỉ là dùng riêng cho Phật Môn kiếm pháp chứ không hỗn tạp nhiều loại võ công như người của Linh Cung hay dùng nên cũng có một chút khác biệt căn bản. Học xong phần Địa Chi rồi, Ngô Bình cũng đoán ra được phần nào mối liên hệ giữa bài đồng dao Mười Hai Tháng Gió và Phật Môn kiếm phổ. Mười hai tháng đại diện cho mười hai bộ trong Địa Chi, từng loại gió lại ứng với từng chiêu thức trong Phật Môn kiếm pháp, vì tính âm dương cương nhu của mỗi chiêu thức đều linh hoạt thay đổi nên khi đưa vào trận pháp cũng phải theo một quy luật nhất định, quy luật ứng với bài đồng dao mười hai tháng gió chính là quy luật gốc.

Mất thêm hơn một năm nữa, Ngô Bình cũng học xong trận pháp theo Thiên Can. Tuy có hơi phức tạp hơn, nhưng có lẽ vì khôn khéo dùng đến những bài đồng dao của Thạch Hà phái mà y chỉ cần đơn thuần ngày ngày đều đặn luyện tập cách ghép trận pháp, chẳng phải dụng tâm suy nghĩ quá nhiều điều cao thâm.

Cuối cùng, sau bảy năm miệt mài, Ngô Bình đành phải chấp nhận dừng lại ở phần thứ năm mươi của kiếm phổ. Cứ theo lời sư Vạn Hạnh, sư Khánh Văn và ni cô Diệu Hạnh, thì trong vòng mấy chục năm trở lại đây, không ai luyện được cao hơn thế.

Lúc bắt đầu học Phật Môn kiếm pháp, Ngô Bình chỉ là một cậu bé mười một tuổi. Thấm thoắt bảy năm trôi qua, đứa trẻ ngày nào giờ đã là một chàng trai mười tám. Năm chàng mười sáu tuổi, biết chàng không có duyên tu hành, sư Vạn Hạnh bèn cho phép chàng rời khỏi chùa, đến ở với Nhật Lão. Từ đó, Ngô Bình bắt đầu để tóc, ăn mặc như một người bình thường. Sáng sớm, chàng đến chùa Quỳnh Lâm học kiếm pháp rồi ở lại giúp các nhà sư trồng rau chăm vườn; sau đó thì học chữ nghĩa, kinh Phật với sư Vạn Hạnh. Xong việc ở chùa, chàng lại về chỗ Nhật Lão, làm công việc của một nhà nông thực thụ. Khoảng đất hoang xung quanh túp lều của Nhật Lão hóa ra là đất tốt, rất thích hợp cho việc gieo trồng hoa quả. Sau vài năm cải tạo đất, Nhật Lão cũng trồng được một vườn nhãn hơn chục cây, cứ đến mùa lại cho rất nhiều trái. Từ ngày có vườn cây đó, Nhật Lão không vào rừng đốn củi nữa, mùa hè thì kiếm sống dựa vào mấy cây nhãn, các mùa còn lại thì khắc gỗ đem bán ở chợ. Khi Ngô Bình rời chùa đến ở cùng, khu vườn có thêm người chăm lo, đến mùa lại càng cho nhiều trái hơn. Chàng cũng dần dần học luôn cả nghề mộc của Nhật Lão, tuy không thực thành thạo nhưng cũng đủ để phụ giúp ông. Cuộc sống của hai ông cháu ở Cổ Pháp cứ thế bình lặng trôi qua.

Chú thích:

(1) Nhâm Thìn, năm Hưng Thống thứ tư (992), Lê Đại Hành phong Lê Long Đĩnh tước Khai Minh Vương rồi cho đóng ở Đằng châu (có thể hiểu là một dạng thực ấp của Lê Long Đĩnh). Năm 1005, Lê Long Đĩnh lên ngôi, cho đổi tên Đằng châu thành phủ Thái Bình, khai sinh ra tên gọi tỉnh Thái Bình sau này.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s